Chiều cửa phật

February 29, 2008

Có cô bé hành hương về cửa phật
Mắt câu liêm cứa đứt áo sa bào
Cô bé ơi đừng nhìn sư như thế
Thà nhìn anh như thế! Không sao

Bé lặng lẽ dúi vào tay oản táo
Anh ngu ngơ hoá trai rỡ sân chùa
Khói bảng lãng dâng trầm hương cứu rỗi
Muốn theo bé về! bạn anh lại muốn chưa

Voi trời hởi! chàng trai xưa lãng tử
Xuống đầu thai, say, ngự lại chốn này
Voi đa tình xuống trần gian hoá phật
Ta đa tình rồi biết hoá gì đây!

Níu áo bạn hai thằng xiêu xuống núi
Gặp em khom dìu tay mẹ lên chùa
Em ngước mắt rẽ lòng anh hai nửa
Tiếng chuông chùa rẽ nắng xế lưa thưa.
                                         Thiên Tượng xuân 1996

Khát

February 29, 2008

Đôi môi người đàn bà bị chồng bỏ quên
Như hoa dại trên đồng ngây ngất đêm
Hạt sương lạc đường trên cánh hoa nóng bỏng
Như người đàn ông vừa quen.

Ngày, trâu gặm cỏ trên đồng ngửi mùi hoa dại rồi bỏ đi
Như loài người chán mùi quen - chồng vợ
Nụ môi chờ chồng dỗi hờn đi qua cửa sổ
Hoa dại trên đồng thao thức chờ đêm.
                                                  Thu 2002

Mùa xuân chưa lỗi hẹn bao giờ

February 29, 2008

Mùa xuân về ban tặng mẹ lo âu
Nụ cười đi đâu, chân trần xuôi ngược

Cành thấp dâng hoa
Cành cao đón lộc

Cha cất thời gian cuối chòm râu bĩ cực
Chờ thái lai qua hun hút đường cày

Em giờ về ngại qua lối cỏ may
Khoe son giả lên vành môi thật

Mọi cuộc đời đều lớn lên từ đất
Mà đôi khi vô cớ trách trời

Vui và buồn là đũa một đôi
Cứ ẩn hiện trong cõi người muôn kiếp

Mãi không em, bạc tiền đi biền biệt
Cho tủi hờn hoang mắt kẻ thấp cơ

Con người ta khi đầy đủ niềm mơ
Lại chợt thèm về củ khoai củ sắn.

Ớt vẫn mãi cay
Ngãi vàng mãi đắng.

Chỉ tình người nắng mưa thăng giáng
Còn mùa xuân chưa lỗi hẹn bao giờ.
                                        Tháng 12/2002

Sóng thức miền thơ dại

February 29, 2008

Sóng hiền dịu ùa ngực anh xoã tóc
Như em xưa mùa trăng cũ xa vời
Ngày ấy ta tiêu tốn bao đêm vàng đồng nội
Mãi sau này em mới tuổi hai mươi.

Sóng hổn hển vào ngực anh thở dốc
Mùi Hương nhu bất chợt thoảng ngây người
Ta đuổi bắt em trên đồng trăng rời rợi
Mãi sau này em mới tuổi hai mươi.

Sóng hờn dỗi vỗ ngực anh thùm thụp
Ơi tay em lên ngực đập liên hồi
Anh lỡ hôn trăng trên môi em chín bói
Mãi sau này em mới tuổi hai mươi.

Sóng nức nở dìu về môi ngọt mặn
Chiến trường ơi! Mai anh đã đi rồi
Còn mình em với đồng trăng thơ dại
Mãi sau này em mới tuổi hai mươi.
                                    Thiên Cầm, hè 98

Quên ta vẫn người

February 29, 2008

                                             Gởi K.A
Rènh rènh hoa trắng nắng cong lưng đồi
Một rặng bình nguyên gió ru hỡi hời
Người hẹn cùng ta về nơi xứ người
Nơi trẻ chăn trâu biết sao nghé cười
Và trăng đi mãi bỏ đêm rối bời
Làm cho đom đóm khóc đêm đỏ đồi
Mộng du hai đứa trôi qua cổng trời
Rồi đêm thêm vắng ta, em rã rời
Vì sao hai đứa quên ta vẫn người
Ngỡ em đức thánh đi ngang cuộc đời
Ngỡ tôi tu sỹ, trời đày ly phôi.
                                      
Mùa yêu cuối
                                      3/3/2003

Vũng tàu em và tôi

February 29, 2008

Có nơi nào ngày xanh miên man thế
Như mùa thu hờn dỗi bỏ đi rồi
Biển ngửa mặt nhìn trời xanh đắm đuối
cứ mơ màng như em ngước nhìn tôi

Tôi theo em về Bãi Dâu, Bãi Dứa
Dốc hoang vu chim rủ rỉ, men đồi
Bến đá, bến Đình cá khô còn mở mắt
Như nỗi buồn của biển vớt lên phơi

Gió lủ lỉ và em thủ thỉ
Sóng quẫy đuôi vớt nắng chân bờ
Núi lớn lặng xanh chiều mướt mát
Ngọc Long thần thuở ấy tặng Âu Cơ

Cửa gió Bãi Sau, cửa tàu Bãi Trước
Đường Thuỳ Vân xanh mướt nét mi dài
Hòn Bà trầm tư một mình không goá bụa
Có Chúa lòng lành trên núi đứng giang tay

Bình minh thức tối ngủ vùi trong sóng
Mặt trời đi chưa qua hết Vũng Tàu
Giá anh mặt trời – Em là biển biếc
Để mỗi ngày ngụp lặn giữa lòng nhau
                               
   Trại sáng tác Vũng Tàu
                                   Mùa thu 2002

Mặt trời giới tính

February 29, 2008

Ta hãy nhìn cuối con đường sung mãn
Sẽ gặp những cuộc hành trình của đàn ông đi về phía đàn bà
Và lời thề răng long đầu bạc
Đang ngược nguồn về phía ông cha.

Tôi bần thần ở giữa ngã ba
Phía bên trái là tiếng giục trái tim
Phía trước mặt là lời răn tiên tổ
Phía sau lưng là căn nhà bỏ ngỏ
Ở bên trong có người vợ chán chồng.

Đàn bà, đàn ông
Là thành công của trò chơi tạo hoá
Bao nhiêu dòng sông cố trườn về biển cả
Bao nhiêu đàn ông trôi về phía đàn bà.

Lỡ một ngày tắt mặt trời giới tính
Những con đường không còn ngã ba.

Con sông buồn nhất trần gian

February 28, 2008

       Trèo lên cây đa, ba nhánh, bốn chồi
        Ai về Hà Lội bắt cáy hôi thì về
  Câu ca chợt nghe có vẻ như đùa, thực ra nó buồn thảm lắm. Xã Hà Lội nằm lọt thỏm giữa vành đai sông Già, một doi đất “tứ vi giang hà” đồng phèn ngập mặn, con coòng, con cáy như đã bò vào giấc mơ của bao thế hệ kiếp người. Mùa lũ, Hà Lội như dề lục bình chao đảo quanh sông. Những cái tên xóm Côi, xóm Cót, xóm Chạ, xóm Bến, xóm Trại, xóm ổ Ga, nghe vọng về nỗi buồn xưa cũ. Nỗi buồn từ cảnh đói nghèo từ tang thương mất mát của chiến tranh. Khổ đau là thế nhưng con người ở đây anh dũng, kiên cường và tấm lòng hy sinh cao cả. Dù chiến tranh đã lùi xa nhưng sự hi sinh của 7 cô gái làng Cót, sự cống hiến quên mình của 130 gia đình xóm ổ Gà, sự gan dạ không sợ nguy hiểm cứu thuyền, cứu hàng của bà con xóm Bến vẫn còn lưu thuyền mãi mãi.

                            BẢY CÔ GÁI LÀNG CÓT VÀ QUÁ KHỨ HÃI HÙNG
  Làng Cót nằm bên sông Già, con sông bần thần như chưa bao giờ chảy. Những ngày động trời sông đỏ ngầu như máu, bọt trủi đầy mặt sông. Lâu lâu từ dưới đáy sông lại ậc lên một cụm bong bóng, cứ như ai đó vừa trút hơi thở cuối cùng. Tôi về làng Cót một ngày mưa, mưa liêu xiêu trên cánh đồng giá buốt. Con đường vào làng ngơ ngác dấu chân trâu. Nhà mẹ Tuỳ nằm cạnh đường, nói là nhà, thực ra chỉ bằng nửa cái lều canh vịt. Mẹ ngồi xo ro trên chiếc giường đơn, thấy tôi về mẹ cười mếu máo, bàn tay ba ngón của mẹ lạnh buốt cầm lấy tay tôi níu xuống giường. Khoảng không gian não nề cô tịch ấy tôi nghe tiếng mọt nghiến trèo trẹo trên xà tre, thỉnh thoảng từ đâu đó thả xuống nền nhà ẩm ướt một nhúm bột vàng như bột ngô. Gió lách qua phên nứa làm tờ huy chương cài trên vách bật lên phần phật. Mẹ Tuỳ là thương binh hạng Hai, một trong bốn người sống sót trong trận bom Mỹ ngày 30 tháng 9 năm 1966 khi đi lấp hố bom cầu Già.
  Đã hơn 40 năm trôi qua kể từ trận bom ngày ấy nhưng nỗi ám ảnh kinh hoàng về sự chết chóc lẩn quất đâu đó trong ký ức đau buồn của mẹ. Đêm, trong giấc ngủ chập chờn mẹ thấy bảy cô gái làng Cót vác cuốc xẻng vừa đi vừa hát, con Lệ tóc dài bén gót đi sau, quay tròn búi tóc mới gội, nước từ mái tóc Lệ văng từng giọt li ti lên mặt mẹ, mùi lá bưởi phả vào trong gió thơm nồng. Mẹ gọi: Lệ ơi? Lệ quay lại mỉm cười. Nụ cười như hoa dong riềng hồn nhiên nở trong vườn mẹ. Dạo ấy Lệ đẹp nhất vùng, những lần đi chiến dịch đắp đê, thanh niên tứ xứ tranh thủ trốn làm đi xem mặt Lệ, cuối cùng người ta phải cho Lệ nghỉ để khỏi ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Mỗi lần Lệ đi lấp hố bom về, bọn con gái lại vây quanh lệ để nhìn đôi mắt đen lánh và những nhánh hồng cầu li ti như dòng sông quyến rũ trên đôi má trắng hồng của Lệ. Mày thành con trai đi, để chúng tao yêu và những cái đấm lưng thùm thụp lẫn tiếng cười trong trẻo vô tư cứ như không hề có bom đạn, chiến tranh. Mẹ Tuỳ muốn giữ mãi hình ảnh ấy, giữ mãi những khuôn mặt con gái trẻ trung, tươi tắn và tiếng cười đã làm cho lòng mẹ bình yên. 72 tuổi mẹ không còn đủ sức để chịu đựng những cơn ác mộng, mẹ sợ hãi, hoảng hốt nhưng đêm đêm ác mộng vẫn tìm về.
  Tiếng máy bay rít lạnh người và tiếp theo là hàng loạt tiếng nổ váng óc. Đơn vị chủ lực địa phương 12 người chìm trong khói bom. Mẹ Tuỳ chồm dậy nhưng bị vướng vật gì đó, mẹ nhìn xuống thấy ruột mình trào ra lòng thòng, không hề thấy đau, mẹ cầm ruột giắt vào lưng quần và chạy về phía làng. Cũng những thời khắc đó trước cửa hầm chữ A mẹ Linh nghe tiếng rơi đánh bịch nặng nề. Mẹ hoảng hồn, bom! Nhưng mẹ không nghe tiếng nổ. Mẹ nhìn ra, một người con gái cụt mất một chân, trên người không còn một mảnh vải. Trời ơi! Con cái nhà ai, tội chưa. Mẹ đâu ngờ rằng đó chính là con gái mẹ. Cũng thời khắc ấy cô Ngô Thị Cháu 19 tuổi con ông Hường đi đưa nước uống cho đơn vị trực súng bị bom Mỹ tung lên, táp cháy thui, rơi xuống nằm chòng queo bên bờ công sự, tay còn cầm cái ấm nhôm bẹp dúm. Và cũng thời khắc ấy bên hố bom cuối cùng sắp sửa lấp xong, 7 cô gái làng Cót trong đó có Lệ chẳng còn nghe được tiếng gào khóc xé lòng của cha mẹ, người thân. Trời ơi! Răng con lại chết con ơi…? Mãi đến cuối chiều người ta mới tìm đủ 7 cô gái, mang về sân kho hợp tác. Anh Phạm Tiến Hải, đội trưởng bị thương nặng cũng vừa tắt thở. Tiếng khóc rống lên rồi chết lịm, tưởng như những mẹ già không còn đủ sức để khóc con. Bây giờ làng Cót chỉ còn người già và trẻ em, trai làng đã theo nhau ra trận. Những cô gái ưu tú nhất, báu vật của làng đã không còn nữa, trong hoàng hôn chạng vạng những cụ già lưng còng gãy gập cõng nước giếng làng về tắm cho các cô lần cuối cùng. Có lâu lắc gì đâu, mới tối hôm qua thôi, cả bon kéo nhau đi lấp hố bom, hát, cười râm ran. Tiếng hát như còn lưu lạ đâu đó dập dìu trong bờ tre, ngõ xóm: “cô gái miền quê ra đi cứu nước, mái tóc xanh, xanh tuổi trăng tròn. Bàn tay em phá đá mở đường, đây những con đường Tổ quốc yêu thương, cho xe thẳng tới chiến trường”. Thế mà bây giờ các em nằm đây lặng lẽ, xanh xao, vết thương tím tái, tay chân thất lạc. Các em nằm trong cái nong phơi thóc lót lá chuối. 7 cái nong phơi ôm tròn 7 linh hồn trong trắng, mười bảy, mười tám tuổi đầu chưa có người con trai nào để dâng hiến tình yêu. Đã khuya rồi mà người đi mua vải liệm vẫn chưa về. Càng nhìn nong phơi càng đau ruột. Hương ơi, Hợi ơi, Hạnh ơi, Nguyệt ơi, Mậu ơi,Thiệp ơi. Tiếng mẹ gọi con lâu lâu lại gào lên thảm thiết rồi tắt lịm. Chẳng thể đốt nhanh tiển đưa các em, vì sợ máy bay. Lệ nằm trong chiếc nong cuối cùng, mái tóc dài và nữa phần đầu của em không còn nữa. Bà Hoằng, mẹ Lệ cố giằng khỏi những người ôm giữ bà, trườn vào nhìn con lần cuối và bà ngã vật bất tỉnh trên chiếc nong phơi. Tang thương bao trùm cả xóm, đám tang tập thể lặng lẽ đi, không chiêng, không trống. Người nhà vội vã đưa các em về nghĩa địa làng. Ba ngày trôi qua làng Cót vẫn im lìm như chết, chỉ có tiếng quạ rúc lên tao tác bên cạnh những hố bom. Ông Chắt đã dành giật được mảng đầu và mái tóc của Lệ từ lũ quạ và tấp lại đâu đó trên cánh đồng. Ba ngày bà Hoằng nằm liệt giường, mắt nhắm nghiền, lâu lâu bà nấc lên, nước mắt lại ặc ra. Vợ chồng ông bà Hoằng chỉ sinh được mỗi mình Lệ. Lệ đã chết rồi!…Đêm đó, chó sủa quay quắt từ nhà toóc…(nhà chứa rơm rạ) rồi chạy vào giường ông Hoằng sủa liên hồi. Ông Hoằng rủ rượi ngồi dậy xua chó ra ngoài, nhưng vừa nghiêng xuống giường, chó lại sủa tiếp. Ông chống gậy cầm cái đèn phòng không ra ngoài. Con chó chạy trước rên ứ ứ, ông theo sau. Ra đến nhà toóc con chó dừng lại tru lên. Qua ánh đèn lờ mờ, ông nhìn thấy một mảng tóc dài bê bết. Ông khuỵu xuống, nấc lên: Con ơi? rồi bất tỉnh…Ông bà Hoằng theo nhau qua đời.
  Nghĩa địa Đồng Hờ cách làng Cót chừng một cây số giữa đồng không mông quạnh, những nấm mồ hoang phế đắp đất xen lẫn giữa những cụm bê tông nhấp nhô tuỳ hứng. Nghĩa địa chật chội không có lối đi, người ta phải trèo qua mộ người này để thắp hương cho người khác. Nếu không có anh Hà con trai của liệt sỹ Nguyễn Tiến Hải dẫn đường, thì tôi không thể nào tìm được mộ các chị. Tám ngôi mộ liệt sỹ nằm rải rác lẫn trong các dòng họ. Ngày các chị ra đi, gia đình tự lo liệu chôn cất. Mộ của các chị nằm trong bộ nhớ mập mờ của người thân thế hệ sau. Một dãy mộ đắp đất liền nhau chừng chục cái, nuốm mộ to đùng đã nứt nẻ, cỏ mọc lan quanh. Anh Hà bảo: Trong số đó có hai ngôi mộ là của liệt sỹ Phạm Thị Hương và Phạm Thị Hợi. Không biết chính xác mộ các chị nơi nào, tôi đành thắp hương cả dãy mộ và cầu khấn, mong cho linh hồn các chị được siêu thoát chốn vĩnh hằng. Tôi chạnh lòng thương những người con gái trẻ trung hồn nhiên tươi thắm dám hy sinh cuộc đời mình cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Họ đã hy sinh anh dũng, vậy mà nhìn ngôi mộ mới buồn thảm làm sao. Đến cả cái tên mình trên mộ chí cũng không có nốt. Xa kia chừng 5km đường chim bay, nghĩa trang Đồng Lộc uy nghi, suốt ngày khói hương nghi ngút, khách thập phương đoàn đoàn thăm viếng. Chắc các chị ở Đồng Lộc chẳng thể nào biết được nơi miền đất Hà Lội, có những người con gái cũng hy sinh anh dũng như mình mà chưa mồ yên mả đẹp. Nếu biết được điều này, chắc các chị cũng buồn lắm. Đúng không! những thân nhân của các liệt sỹ nói với tôi rằng: chúng tôi chẳng đòi hỏi gì nhiều, chỉ mong được chính quyền cấp tiền mai táng phí để thêm vào sửa sang lại phần mộ. Biết là thương con, thương cháu những không làm cách nào có tiền tu sửa.
                                 LÀNG K130
  Làng K130 chính là xóm Trại và xóm Ổ Ga, ngôi làng giống như cây thập tự bởi con đương 1A cắt ngang. Phía nam khoảng 200m là cầu Cổ Ngựa tiếp theo chừng 300m là cầu Già. Xa hơn một chút về phía Bắc là huyện lỵ huyện Can Lộc. Làng K130 là biệt danh có từ những ngôi nhà. 130 ngôi căn nhà ấy bây giờ duy nhất chỉ còn một đoạn cột cháy sém nằm tại Bảo tàng Lịch sử quân khu IV. Còn sự hy sinh với tấm lòng cao cả của những người dân xóm Ổ Ga thì vẫn còn lưu truyền nguyên vẹn mãi đến tận bây giờ.
  Đó là đêm 13/8/1968, đoàn xe chở xăng dầu ra mặt trận bị mắc kẹt giữa đoạn đường độc đạo. Phía trước mặt, bom Mỹ đã hốt đoạn đường ở eo Cổ Ngựa vứt ra cánh đồng. Phía sau lưng cầu Nghèn bị sập, đường chiến lược rẽ về ngã ba Đồng Lộc bị chia cắt. Nếu điều toàn bộ lực lượng chủ lực của huyện với dân quân du kích địa phương san lấp đoạn đường này thì ít nhất cũng phải mất năm ngày. Đoàn xe mắc kẹt giữa vành đai lửa, không thể tiến không thể lui. Xăng dầu là máu nuôi sống những đoàn xe vận tải nhưng ngược lại đó là những núi lửa kinh hoàng nhất nếu bom Mỹ châm ngòi. Tiếng máy bay rít qua vòm trời như thổi bùng ngọn lửa cháy ngầm trong tâm can mọi người. Chẳng ai nghĩ đến tính mạng của mình, chỉ lo cháy hàng, cháy xe. Trong tình cảnh nóng bỏng như ngồi trên chảo lửa thì làng Cót nhận được lệnh hoả tốc từ huyện chuyển về. Phá làng, mở tuyến, dỡ nhà làm đường cho xe đi trước khi trời sáng.
  Cả làng rộ lên, tiếng chân người rầm rập từ các nơi lao về, tiếng trẻ con bị đánh thức khóc u ơ, tiếng lợn éc, tiếng gọi nhau, tiếng va đập tháo dỡ, tiếng nhà đổ sàn sạt, tiếng nghé con lạc mẹ rống lên như khóc. Trên con đường mòn về phía Xuân Lộc những người đàn bà lầm lủi triêng gánh hối hả trong đêm. Những đứa trẻ con ngồi trong thúng, đối trọng chênh vênh qua đầu đòn gánh nhấp nhô trên vai mẹ. Có cụ già ngồi trên lưng con trai cõng đi sơ tán, ông thều thào nói với con: con ơi! Cha có bộ quan tài góp nhóp cả đời mới mua được. Bây giờ tình cảnh thế này, con nói với anh em dân quân mang đi mà lát đường cho xe. Cha chết thì con cuốn chiếu mà chôn.
  Quá nửa đêm, ngôi làng sầm uất trở thành bình địa. Nhà dở đến đâu, lát đường đến đó, hơn một cây số đường, từ quốc lộ 1A ra đến bờ sông Già phía tây đã hoàn thành. Đó là con đường kỳ diệu nhất trong lịch sử chiến tranh. Trong ánh đèn gầm, đoàn xe chở xăng hơn 100 chiếc lần lượt đi qua con đường bằng gỗ. Con đường xây nên từ những mái ấm gia đình. Trước lúc trời sáng đoàn xe đã lên những chuyến phà cơ động sang bờ an toàn. Sáng sớm những người đàn ông trở về làng, họ về để tìm lại ông cụ và những gì còn sót lại. Dẫu sao cũng còn phải sản xuất, còn phải sinh sống, phải chiến đấu. Ngôi làng bây giờ chỉ còn lại những bụi tre ngơ ngác. Những chú lợn choai mất chuồng lao như mũi tên vào những bụi khoai môn hay cụm dong riềng còn sót lại. Mảnh chum, mảnh vại vở nát lổn nhổn. đàn gà con lạc mẹ kêu chim chíp bên cạnh đụn rơm. Một chút gì đó như sự buồn thương, nuối tiếc len qua lòng họ. Làm sao không thương tiếc cho được về những ngôi nhà mấy đời dành dụm xây nên bây giờ chìm sâu trong bùn đất. Những lối ngõ thân quen chứa đựng bao kỷ niệm ấu thơ giờ đây mất dạng. Họ không thể trở về ngôi làng thân quen được nữa vì rất nhiều lý do. Ngoài kia giữa đồng cỏ năn, những bà mẹ đã trải qua một đêm dài dằng dặc với tâm trạng lo âu khắc khoải. Những đứa trẻ ngủ tròn trong thúng, hay vắt người qua vai mẹ ngủ ngồi trên bờ vùng, bờ thửa. Cánh đồng nơi họ sơ tán là một vùng trũng thấp, ngập ngụa đầy những con đĩa và loi thoi cỏ năn. Những túp lều tre được dựng lên vội vả để làm nơi trú ngụ. Mỗi nhà đào một cái hầm tròn ngay dưới gầm giường, nước cứ trào lên ngập hầm. Đêm ngủ phải tuốt vôi vào tay chân cho bớt đỉa cắn. Trong nổi gian lao cơ cực ấy, điều lớn hơn đã nảy sinh trong lòng họ đó là niềm tự hào kiêu hãnh. Họ đã góp phần của mình vào sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.
                                                       
        ƯỚC VỌNG
  Bây giờ xóm Cót có cái tên mới là Hà Nam, xóm Trại, xóm ổ Ga là Tân Tiến, Minh Tiến, xã Hà Lội giờ đã thành tên xã Tiến Lộc. Những dấu tích xưa giờ không còn nữa. Cây đa làng cổ thụ, ba chánh, bốn chồi đã bị bom Mỹ đánh gẩy cành, mất ngọn, cháy rụi rồi chết. Chỉ còn lại câu ca xưa váng vất đâu đó như linh hồn làng quê một thủa. Những ngôi làng xưa, giờ đã lành lặn hơn. Tôi gặp những cụ già, những bà con xóm Trại, xóm ổ Ga, nghe họ nhắc lại những năm binh lửa… Còn rất nhiều những người cống hiến hy sinh chưa có một chế độ gì. Họ nói về sự hy sinh như một kỷ niệm, chẳng ai nhắc đến quyền lợi của mình. Dù đó là những đau thương mất mát không bao giờ lấy lại được. Họ đã hiến dâng tất cả những gì mình có, kể cả một ngôi làng. Điều ước vọng, khát khao của họ chỉ đơn giản là một tấm bê tông, cỡ bằng mặt bàn, dựng ở đầu làng trên đó ghi chiến tích làng K130. Vậy mà quá khó?
  Cuối chiều tôi về ngồi bên cầu Già, nơi ngày ấy các chị hy sinh. Cầu già bây giờ chỉ còn ba cái mố trụ bơ vơ như răng ông già trước cửa miệng sông. Xuôi một chút là bến phà. Những năm chiến tranh chống Mỹ, đêm đêm hàng trăm lượt xe chở hàng ra mặt trận qua đây. Và đã có biết bao nhiêu xe đã không qua mỗi khúc sông này. Mới đây thôi những người dò phế liệu gần cầu Già vừa đào và cẩu lên một xác xe Zin 157, từ trong ca bin bẹp dúm, một cái mũ cối cũng bẹp dúm văng ra và một chiếc dép đúc dính chặt vào chân phanh. Giờ này trên sông hoàng hôn đang về, ngày mưa, hoàng hôn không có sắc vàng. Mặt sông tím tái trủi đầy bong bóng, lặng lẽ và bí ẩn. Gió như bàn tay lạnh lẽo vuốt lên những khóm cỏ may lắc lư tựa hồ như nén hương cháy dở. Tôi đứng dậy định quay về chợt có tiếng gió rượt mạnh có tiếng ai đó thì thào nghe đất lạ. Tôi tự nhiên ớn lạnh, rùng mình, tiếng thở dốc như hụt hơn và bất thần tiếng con gái kêu lên thảm thiết: “Mẹ ơi”. Rồi tất cả lại chìm trong im lặng. Tôi nhìn quanh chẳng thấy ai. Đêm đã xuống từ lúc nào, con sông Già đặc quánh như vũng máu. Với tôi đó là con sông buồn nhất trần gian.

                                                                                                     Hà Tĩnh, tháng 3-2005

Những người đàn bà vẽ nắng

February 25, 2008

                                    Ngòi bút kỳ vỹ nhất trên đời tôi thấy
                                    Là lưởi cày của cha ký hoạ cánh đồng
                                    Màu tím ngàn mây, màu chàm ở nắng
                                    Người trộn mồ hôi với niềm khát vọng
                                    Dãy núi mờ xa hình tượng bát cơm đầy
  Một bát cơm đầy! giản dị vậy thôi mà hành trình ngàn đời chưa tới. Quê tôi, một eo đất nằm chênh vênh trên cổ bình hương, miên man núi đồi, mông mênh biển và một ít đồng bằng. Quê tôi nghèo nổi tiếng, nó như một thứ ký tự nhục nhằn định vị trong ký ức những người ly hương kiếm sống, mặc cảm nghèo hèn chẳng dễ gì chối bỏ. Tôi ly quê từ ngày còn rất trẻ, đó là một chiều mùa đông, mưa lây phây trên những người đàn bà đi cấy. Tôi lên đồi nhìn quê hương lần cuối, nhìn khói bếp bần thần trên mái rạ và đồng làng chi chít ô vuông, những người đàn bà lom khom di động như những quân cờ tạo hoá trên ván cờ buồn! Quê hương đã cho tôi nỗi buồn. Nỗi buồn đã làm nên âm bản tâm hồn tôi từ ngày thơ dại.
  Chiến tranh, tôi nghỉ học trở về làng để nhập ngũ. Ngày ấy cả nước sục sôi, quê tôi cũng rộn ràng, từng đoàn quân ra trận nghỉ lại, rồi đi, các cô gái thanh niên xung phong quê ngoài Bắc qua làng. Tôi nhớ chị Tuyết Xinh. Tôi đã vẽ lên áo gối cho chị đôi bồ câu và hai chữ hạnh phúc để chị thêu. Chị đi rồi cả tháng trời tôi như kẻ mất hồn. Không biết chị có bình yên trở về sau chiến tranh! Tôi căm ghét chiến tranh nhưng chính chiến tranh đã làm cho con người thương yêu, gần gũi nhau hơn. Tình quân dân, tình đồng đội, thời đó thiêng liêng cao cả biết bao.Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì Miền Nam ruột thịt. Quê tôi ngày ấy niềm vui trở lại, hừng hực khí thế, những đêm liên hoan tiễn người tòng quân, bọn con gái hát, những bài hát thôi thúc lạ thường “ yên tâm vững bước mà đi hỡi người mà em yêu. Việc nhà việc nước dẫu có bao nhiêu em cũng làm tròn anh cứ yên tâm”…Rồi “ thanh niên quê tôi làm chiếc gậy hành quân, đặt cho tên gọi là chiếc gậy trường sơn… như nhắn nhủ những ai lên đường mà lời hứa với bao người thân”…Rồi bao nhiêu là ca khúc như Trên đỉnh trường sơn ta hát, Lá đỏ…Tôi cứ nghĩ đất nước Việt Nam thắng Mỹ ngoài sự hy sinh xương máu còn có sự đóng góp của những Nhạc sỹ. Tôi tôn thờ họ, những ca khúc của họ vượt qua giới hạn, tạo nên sức mạnh phi thường không gì ngăn nổi thôi thúc những đoàn quân ra trận hừng hực khí thế và làm nên chiến thắng. Chính họ đã tạo nên một phần tâm hồn dân tộc Việt Nam.
  Tôi một gã nhà quê “di cư” ra phố, lâu lâu trở lại thăm làng. Bao lâu rồi làng An vẫn vậy, vẫn con đường làng ướt sũng dấu chân trâu. Ngày xưa, ngày thơ ấy, lũ trẻ trẻ chúng tôi thường nói dấu chân trâu là trái tim làng quê. Bao lớp người đã mãi mãi ra đi, bao nhiêu đàn trâu một đời tận tuỵ với dân cày đến kiệt sức, khi giã biệt ruộng đồng còn bị cắt cổ phanh thây.
 Tôi ngồi trong hoàng hôn bên đống lá tre của ai đốt nhấm, mùi khói thơm le the, chập chờn, bãng lãng như cháy lên từ ký ức xa xăm . Trong tôi lại hiện về những người đàn bà vẽ nắng, họ là những thiên thần của mọi làng quê. Những người đàn bà hồn nhiên dung dị. Họ vẽ nắng suốt một đời,vẽ từ khi họ còn là thiếu nữ. Bao nhiêu thế hệ từ bốn nghìn năm dựng nước, họ miệt mài vẽ nắng bằng sự khát khao, bằng niềm tin bạo liệt. Họ vẽ qua tháng năm, qua kiếp người, vẽ nắng cho mình, cho người và vẽ nắng cho nụ cười muôn kiếp nhân gian. Họ là một phần nền móng vững bền cho dân tộc, khi đất nước bình yên, cả những thời chiến tranh loạn lạc. Họ cho đàn ông sự ấm áp, cho trẻ thơ lời ru, cho nhân loại sinh tồn và cho muôn đời đồng quê được nắng.
- Mày về lúc nào vậy?
Tiếng ai đó rất quen làm tôi sực tỉnh. Hoá ra là thằng Hồng.
- Làm về muộn thế mày?
Tao bừa nốt cho xong ngày mai còn xuống cấy. Thôi! về nhà tao uống rượu với dam rang muối; nói chuyện cho vui
Tôi theo Hồng về nhà, không về không được. Tôi biết hắn là một thằng hay tự ái. Ngày còn đi học cấp III nó học cực giỏi, thi một phát vào Đại học thẳng tâng. Vào trường vừa được mấy tháng, bị bọn con em thành thị nhạo báng là đồ nhà quê, chuyện đó cứ tái diễn, tức quá không chịu được nó thoi cho một thằng ộc máu mũi và tùa luôn hai cái răng cửa, vào mồm một thằng khác. Ngày ấy trường Đại học còn nghiêm lắm. Nó bị liệt vào hành động côn đồ và bị đuổi khỏi trường…
Vừa vào đến sân hắn quát:
- Con Nga đâu, ra đây, rửa dam rang muối cho cha. Hồng dựng cái bừa vào thành giếng, vớt cái oi treo lủng lẳng bên tay bừa, chân gạt cái thau nhôm cái rẹc, mở bưa oi, xổ ra một mớ cua đồng. Tôi nghe tiếng cua đồng bò rổn rãng bên thành thau. Rửa chân tay qua loa, Hồng mời tôi vào nhà, hắn lôi từ gầm bàn lên một chai rượu, rót đầy như kính lúp.
Nào! uống. Rượu lắc lư, tròng trành trên mái chén tôi nghe một tiếng uột, cả khối lửa lỏng biến mất đâu đó sau nụ cười buồn.
- Vợ mày đâu? Tôi hỏi.
- Mày không biết thật à. Vợ tao uống thuốc chuột tự tử rồi.
Tôi bàng hoàng và ái ngại, bất chợt ngước lên bàn thờ, sau những cùi hương đỏ đọc, vợ Hồng ở đó từ lúc nào. Qua ánh đèn cầy lay lắt, đôi mắt người con gái hoang vu nhìn về một cõi xa xăm nào đó. Lòng tôi se thắt. Thêm một người vẽ nắng ra đi.
Hắn lường thêm mấy chén cho vào cổ, lửa đã hừng lên trên khuôn mặt khắc khổ,răn reo.
- Đời tao quá chó mày ạ. Biết thế này chết quách ở chiến trường cho xong. Chí ít cũng có các thẻ liệt sĩ, một tháng được mấy trăm ngàn nuôi mẹ. Bây giờ về đi cày, suốt đời lấy lồn trâu làm thước ngắm. Một năm gánh 12 thứ thuế. Đau nhất là thuế an ninh quốc phòng. Đáng lẽ phải tha cho những thằng lính đã đóng thuế ở chiến trường chứ. Vợ tao chết vì quá sức chịu đựng và có lẽ cũng vì thương tao. Nó sinh một giàn bốn đứa con gái, mỗi lần như thế nó lại khóc, mẹ tao thì thở dài. Nó muốn tao lấy vợ khác, nhưng tao không muốn thế…Mày thoát được khỏi nông thôn là hạnh phúc cho mày. Đời nông cực khổ lắm mày ơi, ăn không đủ ăn, mặc không đủ mặc. Mày cứ nhẩm tính xem, ngày hè, bù ngày đông, một ngày, một người nông dân mất ít nhất một lít mồ hôi, một năm 360 ngày, với 40 năm vật lộn với đồng áng. Mày tính đi không phải là hơn 14000lít mồ hôi cho một đời người à. Mồ hôi mà không bốc hơi thì cả làng ta thành biển. Người làng mình bây giờ hầu hết bị bệnh phong thấp, tiền thì không có mà chữa bệnh đành phải dùng thứ này cho nó rẻ tiền. Hắn chỉ vào chai rồi nói: dùi cui đập xương đấy mày ạ. Mỗi ngày một chai 8 nghìn, mát xa xương hiệu nghiệm lắm. Mỗi ngày từ nhà ra đồng, theo trâu đi cày ngày làm 8 tiếng cũng ngót 5 cây số,nhưng chưa là cái gì so với cố Chắt Nắt gần 70 tuổi rồi. Một đời lầm lũi theo trâu, nếu tính cho nó rẻ, 5 cây số 1 ngày, cụ cống hiến cho ruộng đồng 40 năm cuộc đời thì cụ phải đi được trên 70.000 cây số. Nếu như không vướng biển thì cụ đã cày sang bên kia bán cầu.
  Con bé đưa lên một đĩa cua đồng đỏ lựng, đầy tú hụ, mùi cua đồng rang muối với ớt tươi thơm cồn cào làm thằng Hồng tắt hẳn cái loa kể khổ.
  Ăn đi mày, dòn lắm đấy, rồi làm bát cơm cà. Muộn quá không mua được chút mồi đãi mày. Gà thì chết dịch hết rồi. Cũng may nó dịch mà kiếm được miếng, nhưng cũng phải chờ cho nó dãy đành đạch nghẻo xuống đống rơm mới dám làm thịt. Nói thật nhé, ở làng ta chưa có ai to gan, đủ bản lĩnh làm thịt con gà khoẻ mạnh để ăn. 60.000 một cân gà bằng 2 yến lúa, bố thằng nào dám liều…
  Hồng tiễn tôi đến bờ tre, trong màn mưa cuối đông. Chắc đã khuya lắm, làng quê thiêm thiếp ngủ. Tôi thương làng tôi, thương những người đàn bà vẽ nắng. Đừng khinh rẻ họ. Đừng xem thường nông dân. Họ là phần trong trẻo nhất mà nhân gian còn sót lại. Bát cơm ta ăn hàng ngày đã đi ra từ bàn tay những người vẽ nắng. Những bàn tay xù xì thô ráp kia như những ngọn bút viết trong giấy ruộng bùn, qua mưa phùn gió bấc và những ngày hè rộp nắng. Đôi khi thiên tai đã xoá đi tất cả. Họ lại cặm cụi vẽ lại từ đầu, cho đến một ngày, những cánh đồng quê rực vàng lúa chín. Ấy là khi tác phẩm của họ đã hoàn thành. Tạo hoá đã cho trái đất ánh sáng mặt trời để loài người và mọi sinh vật khỏi bị huỷ diệt trong băng giá, thì chính những người nông dân đã làm nên sản phẩm để nuôi sống loài người. Nắng của những người đàn bà nông thôn là đồng lúa chín. Màu nắng đó đã làm ấm áp tâm hồn họ và nuôi sống ngàn vạn kiếp người
     Tôi rời làng khi đồng đang xuống cấy. Trong sương mờ buổi sáng, những người đàn bà dàn hàng ngang vẽ nắng. Những chũm mạ xanh nõn thẳng hàng tăm tắp được vẽ lên từ bàn tay tài hoa trông tựa hồ như những ngọn nến xanh thắp lên lễ hội mùa màng. Cánh đồng nhấp nhô những đường cong mỹ học, thân hình những người đàn bà vẽ nắng vút lên hình cánh cung, tạo thành nửa hình trái đất. Một nửa còn lại còn khuất lấp đâu đó trong nước ruộng bùn. Cũng có thể đang ở phía đêm mùa hè, khi trăng vừa lên, khi nước dội ào ào sau bụi chuối và hương, ấy là khi những người đàn bà tách vỏ. Họ như những hạt thóc thô ráp nhưng khi tách vỏ, sau làn da cám, mùi gạo tám thơm bừng lên trên da thịt. Hạt gạo tách vỏ trắng ngần. Ánh trăng lọt qua lùm chuối hương và dừng lại đâu đó trên nửa hình trái đất. Lúc này họ là một nửa của nhân loại.
   Tôi nghe như tiếng trẻ con vẳng lên từ tâm thức:
   Mẹ ơi tắm mau lên, vào ăn cơm, con đói rồi. Và tôi như thấy một mâm cơm đặt trên chõng tre giữa sân rời rợi bóng trăng vàng.

                                                                                                              Hà Tĩnh, ngày 8/1/2008.

Nghĩa trang tình yêu

February 25, 2008

  Đã từ lâu, tôi có ý tưởng xây dựng một nghĩa trang tình yêu. Nơi đó lưu giữ những mối tình cao đẹp. Nơi tôn vinh những linh hồn của những tâm hồn. Trên hành tinh chúng ta đang sống, có nhiều giá trị đã được xác định và con người được đặt vào giá trị tối cao. Trong mỗi con người hoàn thiện về mặt sinh học, ai cũng biết rằng tình yêu giới tính có sức mạnh phi thường không gì ngăn cản nổi, nó tiềm ẩn và bí ẩn. Muôn mặt người trên trái đất này không ai giống hệt ai và tình yêu cũng mỗi người một vẻ. Tình yêu của đàn ông là ở phía đàn bà nắm giữ và ngược lại, tình yêu của đàn bà là ở phía đàn ông. Sự nảy sinh tình cảm cũng bất thường không định trước. Không phải ai trong cuộc đời này cũng tìm được tình yêu của mình. Sự nhận biết đó, mỗi cá thể có thể tự kiểm chứng từ trạng thái vô thức là hy sinh cho người mình yêu bất cứ ở đâu, bất cứ điều gì kể cả tính mạng của bản thân. Nếu ai chưa có một lần đạt đến ngưỡng đó là những người đang trên đường hành trình đến với tình yêu hoặc đơn thuồn chỉ là tình cảm giới tính mà thôi. Tình yêu là một phạm trù không thể quy nạp nhưng chắc chắn rằng tình yêu sinh ra ở đỉnh tâm hồn. Tình yêu chính là báu vật của tâm hồn nhân loại. Là nguồn gốc sản sinh ra mọi nền văn hoá.
  Ở đất nước Việt Nam, sau chiến tranh, hàng triệu thanh niên ra mặt trận bảo vệ Tổ quốc đã không trở về. Hàng nghìn người nằm lại trong nghĩa trang liệt sỹ, hàng nghìn người khác mất tích, không có lấy một nấm mồ để người thân thắp nén nhang tưởng nhớ. Họ vĩnh viễn ra đi bỏ lại hàng ngàn thiếu nữ mồ côi tình yêu. Trong số họ có những người không lấy chồng, suốt một đời mòn mỏi đau thương, mỏi mòn hy vọng. Họ giữ trọn lời hẹn thề và chờ đợi. Có người chờ đợi mười năm, có người chờ đợi hai mươi năm, có người chờ đợi một đời. Họ hy vọng người mình yêu còn thất lạc đâu đó, rồi có một ngày sẽ trở về. Trong ký ức của hàng ngàn phụ nữ còn có những nghĩa trang, nơi đó lưu giữ kỷ niệm và bóng hình người yêu dấu. Nghĩa trang đó không có khói hương chỉ có nước mắt và nỗi nhớ thương thắp suốt cuộc đời.
  Tôi muốn “di dời” nghĩa trang riêng tư từ ký ức của những người yêu nhau, về xây dựng một nghĩa trang tình yêu. Nơi để cho những người yêu đến thắp hương cho người yêu và dốc lời thở than cho vơi bớt nỗi niềm. Rồi bao thế hệ kế tiếp tới thắp hương viếng nơi đây, họ sẽ hiểu về những mối tình cao đẹp của những người hy sinh tất cả tình yêu tuổi trẻ cho Tổ quốc bình yên.
  Không riêng ở Việt Nam mà trên trái đất này, nhân loại đã trải qua những cuộc chiến tranh đẫm máu. Biết bao lứa đôi vĩnh viến chia lìa, cái mất mát lớn nhất của nhân loại là tình yêu. Tôi muốn lưu giữ và tôn vinh tình yêu để tình yêu trở thành bất tử. Để một mai trên trái đất này mỗi dân tộc đều có nghĩa trang dành cho bất cứ ai chết cho tình yêu cả trước đây, hôm nay, mai sau và mãi mãi.
  Nghĩa trang tình yêu đặt trên một ngọn đồi. Quanh đỉnh đồi, trồng cây thông biểu tượng cho những người con trai. Dưới chân đồi, trồng hoa trinh nữ biểu tượng cho thiếu nữ. Lưng chừng đồi trồng hoa hồng tạo thành hình trái tim, biểu tượng cho tình yêu. Trên đỉnh đồi có một đài cầu tình cao 99 bậc. Kiến trúc theo hai mảng cao thấp khum vào nhau nhưng tách rời không dính kết, mô phỏng tình yêu không đến được. Phía trong đỉnh tháp có treo một quả chuông. Khi cầu tình, người con trai thì lắc 9 tiếng, người con gái lắc 7 tiếng để gọi hồn vía người khác giới. Dùng âm thanh tiếng chuông nối lại khoảng cách tách rời phía trên. Mặt trước đài có khắc một câu nổi tiếng về tình yêu. Từ trên đỉnh tháp buông xuống 6 giây theo hình sóng như tóc xoã lại như khung nhạc của một cung đàn bỏ ngõ. Đế chân tháp xây dựng hình vuông, trên đỉnh có quả cầu tròn, ý tưởng cầu mong cho tình yêu vuông tròn. Cầu thang lên đài cầu tình cấu trúc bên trong, cầu thang đi từ hai phía và gặp nhau ở gần đỉnh tháp, nơi có đài hương và chổ cầu tình. Đài cầu tình để cầu người tình đã khuất, cũng để cho những đôi trai gái ngồi ở lưng chừng trời nguyện cầu cho tình yêu của mình. Đài được xây bằng đá hoa cương màu hồng.
  Mặt trước nghĩa trang có bức tượng một đôi trai gái đang quỳ bên nhau. Phiên bản tác phẩm mùa xuân vĩnh cửu của Rô Đanh. Sau lưng bức tượng có một ngôi mộ chung cho một đôi trai gái yêu nhau hy sinh thơi chống mỹ. Phần mộ trong nghĩa trang được xếp theo hình rẽ quạt, lấy tâm điểm từ bức tượng mùa xuân vĩnh cửu. Mộ được cấu trúc hình chóp như những căn nhà nhỏ, mặt trước có ghi tên, tuổi, quê quán của mỗi người, mộ được đánh dấu theo số thứ tự. Quanh mộ có những mô hình phụ hoạ cho cảnh vật từng miền quê nơi họ đã từng sinh sống. Mặt trước hai bên cánh gà cổng ra vào có những tấm đá hoa cương khắc những bài thơ tình, những bức thư tình nổi tiếng thế giới.Phía mặt sau, góc trái có một khu bảo tàng tình yêu nơi lưu giữ kỷ vật của những cuộc tình. Mỗi số mộ tương ứng với số ô trong bảo tàng. Trong đó ghi tên tuổi, quê quán, ngày sinh, ngày mất, diến biến của cuộc tình, những kỷ vật, hiện vật, kể cả những bức thư tình họ gửi cho nhau. Xung quanh khu nghĩa trang là một khuôn viên rộng trồng hoa và cây xanh. Trên đồi thông được treo những nhạc cụ qua cành cây dưới gốc cây rải rác vài hòn đá mồ côi, chỗ dành cho những người thất tình.
  Trong nghĩa trang quanh những ngôi mộ được trồng hoa và cỏ,có thể đó là loài hoa cỏ may, những loài hoa dại thân thấp. Còn rất nhiều chi tiết khác được thể hiện ở bản vẽ.
Tôi đã làm một loại hương dùng thắp trong nghĩa trang tình yêu:
 
Hương thắp trong nghĩa trang tình yêu được làm bằng hoa hồng, hoa trinh nữ, hoa lưu ly và một ít phụ gia, thân hương làm bằng cành thông nhỏ. Tôi đã làm và đốt thử, khói hương màu trắng xanh, tàn hương màu huyết dụ, mùi thơm rất gợi và buồn.
  Bên trái: khu lưu niệm danh nhân- nơi đây lưu giữ các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài tình yêu của các tác giả nổi tiếng thế giới. Giới thiệu thân thế, sự nghiệp, thời điểm ra đời tác phẩm. Tượng và tác phấm các danh nhân được xếp theo thự tự thời gian qua từng thế kỷ (từ xưa đến nay). Khu lưu niệm cấu trúc trong khuôn viên hình tròn, xung quanh là bức tường ánh sáng. Ánh sáng lấy từ mặt trời, mặt trăng và cuối cùng là ánh sáng từ điện. Bức tường ánh sáng được tính toán kỹ lưỡng dựa trên quy luật vận hành của vũ trụ, theo mùa và theo hướng. Lượng ánh sáng đó được điều chỉnh qua các lỗ ở bức tường ngoài, chính xác cho cả khi mặt trời, mặt trăng vừa lên, lưng chừng, đỉnh đầu và xuống thấp. Ánh sáng đó tác động vào lăng kính đa màu và bức tường nước tạo nên khúc xạ và khuyếch đại thành một quầng sáng cầu vồng. Trong khu lưu niệm là vườn tượng, tượng của các danh nhân nổi tiếng được đặt ở vị trí trang trọng. Sau lưng những bức tượng có thể là những cây tùng, cây bách, một giàn ty gôn, một bờ oải hương hay chỉ đơn thuần một lùm hoa đồng nội…Quanh khuôn viên là những ô trồng muôn loài hoa của mọi miền quê xứ sở.
  Chính giữa là một ngôi tháp hình tròn 9 tầng, cấu trúc tầng thấp chiều cao đúng 3,4m. Mỗi tầng có một chức năng riêng, thư viện, giới thiệu tác giả tác phẩm, phòng trưng bày hiện vật, quầy sách, quầy lưu niệm, phòng đọc, phòng đón tiếp khách tham quan…
  Bên phải nghĩa trang là bảo tàng tình yêu, kiến trúc kiểu cổ, nơi đây lưu giữ “hồ sơ” những cuộc tình, các hiện vật, kỷ vật, những bức thư tình. Có những ô riêng dành cho từng người có tên trong nghĩa trang. Có phòng tra cứu tiểu sử. Tôi đã có 150 bộ “hồ sơ” và lời đề nghị của những người thân xin đưa họ vào nghĩa trang tình yêu. Qua những kỷ vật, những bức thư tình và thẩm định qua thực tế. Tôi thấy đó là những mối tình thiêng liêng, cao cả đáng được tôn vinh và lưu truyền cho hậu thế.
  Vườn địa đàng - nằm phía sau nghĩa trang trong một khuôn viên rộng 10.000m2. Phối cảnh tạo nét hoang vu, suối nước chảy quanh vườn. Trong vườn trồng các loại cây ăn quả của mọi miền quê xứ sở. Có những loài cây dây leo phủ trùm lên các tán cây để ánh sáng mặt trời không xuyên qua tán lá nhằm tạo sự ảo mờ trong khu vườn. Cây được trồng theo loài, cao thấp. Vòng giữa trồng các loại cây thân cao, xung quanh trồng những loài cây thấp dần để từ xa nhìn lại khu vườn giống như một chiếc ô màu xanh khổng lồ. Ý tưởng là chiếc ô che chở cho những cuộc tình, những đôi trai gái yêu nhau khi vào khu vườn tình này.Từ cổng chính đi vào 19m có tượng ADam và EVa. Sau lưng bức tượng 7m có một cuốn sách bằng đá đặt đứng trên một trụ xoay, những trang sách được đóng, mở bằng những tấm đá xẻ phẳng, trên đó khắc chữ mạ vàng, nội dung ghi lại truyền thuyết ADam và EVa. Cuốn sách có chiều cao 2,2m, rộng 1,4m. Cuốn sách được khép mở bằng hệ thống điện. Khi cuốn sách mở ra hình rẽ quạt, người đọc có thể đứng trước trang sách đọc một cách thoải mái.
  Khát vọng xây dựng nghĩa trang tình yêu của tôi là để tôn vinh đức hy sinh, sự thuỷ chung, cao đẹp của tình yêu nhân loại. Qua đó có cách nhìn nhận và đánh giá đúng về giá trị của tình yêu và sự hy sinh cho tình yêu giới tính (chết vì tình yêu). Xét cho cùng đỉnh cao của tâm hồn là tình yêu, đỉnh cao của tình yêu là sự vô thức. Tôn vinh tình yêu là thể hiện tầm vóc đỉnh cao của văn hoá nhân loại.
                                                                                                                    Hà Tĩnh năm 2007

Trang tiếp »