Cửa rừng nơi thành phố
March 13, 2008
Con tàu có kiểu đi gật gù như một nhà thơ già khoái trá vừa chộp được mấy câu trời cho. Sa ngồi bên tôi, cô có vẻ đẹp “bạo tàn”, kiểu cấu trúc rất lạ của thượng đế, một nét hoang đàng, một chút quý phái, một ánh sắc lạnh. Sự cấu trúc lộn xộn nghiêng về nghịch lý ấy chỉ bị phá vỡ khi sự hồn nhiên cố hữu từ trong lồng ngực cô ùa qua nụ cười trắng muốt. Với nụ cười ấy, đàn ông “gục ngã” là chuyện tự nhiên. Nàng là vợ của một Việt Kiều từ Canada về nước, chàng dành giật được nàng sau cuộc thi hoa hậu? không phải. Đơn giản cô chỉ là người đi buôn hàng “con”. Hàng con là từ thường dùng trong giới buôn bán động vật hoang dã. Tôi quen cô đã 10 năm, 10 năm cô đi buôn hàng con chưa bao giờ bị bắt. Sự xinh đẹp và quyến rũ của đàn bà cộng thêm một ít tinh khôn thường đưa người ta đến một đỉnh cao nào đó. Một cô gái miền quê Đức Thọ, vốn liếng chỉ có nụ cười mà bây giờ gia sản của cô ngót nghét hai tỉ đồng.
- Em chỉ là dạng mèo con bắt chuột nhắt-cô nói.
- Thế ai là mèo già bắt chuột lớn chỉ anh xem.
- Anh lên Trung tâm Hương Sơn mà xem người ta ở nhà máy lạnh, đi xe đời mới, ăn cơm vua, xài hàng ngoại. Anh biết thừa còn hỏi. Gia sản hàng chục tỉ đồng nhờ hàng con cả đấy.
Đúng vậy! Sa chỉ là mèo con. Bây giờ con tàu gật gù đã ru em ngủ. Em gối đầu lên vai tôi, chiếc gối nhọn hoắt không làm em tỉnh giấc. Tại sao? Em chẳng lo lắng gì về lô hàng mấy chục triệu với những con tê tê “quốc tịch” Thái Lan nằm trằn trọc đâu đó trên toa tàu. Còn tôi, tôi không tài nào ngủ được, những mảnh ký ức vụn vỡ từ những lần luồn rừng, những lần sang Lào qua Thái, chứng kiến những đường dây buôn hàng con, buôn gỗ quý, những kiểu ăn rùng rợn cứ lũ lượt trôi về như con thú, như gỗ rừng lũ lượt trôi về thành phố. Đôi khi ngồi trong nhà ăn thịt thú rừng lại chửi những kẻ săn thú. Làn nhà đóng cửa bằng gỗ lim lại nguyền rủa bon lâm tặc khi bất ngờ xem truyền hình thấy một gã cố cùng nào đó đánh trọng thương một “cảnh sát” rừng. Tôi chưa từng thấy một người nông dân nào ngồi ăn trong quán đặc sản rừng và cũng chưa bao giờ thấy một gã thợ rừng nào có nhà gỗ ra dáng. Thú rừng đã về đâu? Chúng đã bị băm nát để đi qua những túi cong như nửa vầng trăng, đêm nguyệt thực. Còn gỗ là thứ hài cốt muôn đời quý giá nó ngự ở trong căn nhà sang trọng ở thị trấn, thị xã, thành phố, nó tôn vinh cho chủ nhân của nó, những người có nhiều tiền. Một thực tế là ít nhất khoảng 80% các chủ nhân sử dụng gỗ không có giấy phép. Chỉ hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, số gỗ này tính ra đã hàng chục vạn mét khối, nguồn gốc từ gỗ buôn lậu về các chủ xưởng, chế biến và bán lại cho người sử dụng. Tôi làm một chuyến khảo sát từ miền Trung ra đến Hà Nội trong vài người “phe” gỗ. Từ Tuyên Hoá - Quảng Bình đến làng mộc Thái Yên, Đức Thọ qua Hà Nam đến Trường Chinh. Không biết gỗ lim và gỗ gụ từ đâu ra mà nhiều đến thế. Nếu có phép thuật làm dựng dậy mà làm sống lại thì dọc dải đất từ miền Trung ra đến Hà Nội bát ngát những cánh rừng. Rừng sẽ mọc tràn lên thành phố. Một điều rất lạ là các chủ gố đều có lời hứa giống nhau “ Anh cứ chở gỗ đến địa bàn này tôi sẽ bảo lãnh hết, mất tôi đền anh”. Lúc đầu tôi hồ nghi về lời hứa này nhưng khi đã xem kỹ những đống gỗ chất ngất, không hề có dấu búa kiểm lâm thì, tất nhiên tôi tin rồi. Lấy đâu ra gỗ bán cho quý vị bây giờ, tôi gặp ông Hoàng Chỉnh – Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Hà Tĩnh, ông bảo rằng: “Bói đâu ra lim, hồi mình còn ở Lâm trường Hương Sơn tìm một cái cột nhà lim lóc còn không có huống chi bây giờ.Mấy cửa rừng đã đóng rồi giờ chỉ còn lại 2 lâm trường: Chúc A và Lâm trường Hương Sơn, mỗi năm khai thác 2 vạn mét khối gỗ cuối nhóm vừa rồi bắt được mấy xe gỗ lim là gỗ từ Quảng Bình chở ra”…
Tôi đã là kẻ rất mê rừng hầu hết các khu rừng ở địa bàn Hà Tĩnh tôi đã lủi qua và lời ông Chỉnh nói là hiện thực. Rừng bây giờ trọc tếu như đầu húi cua, lơ thơ vài chỗ sài đen, nhiều khu rừng xưa nay đã thành đồi. Năm 1990, rừng Việt Nam còn tồn tại đủ 124 loại gỗ thuộc 8 nhóm, có gần 100 loài gỗ quý. Riêng nhóm I đã chiếm đến 29 loài, có 68 loài có tên thương hiệu. Hơn 10 năm con người đã làm cho rừng khánh kiệt. Nhiều loại ggỗ quý đã mất giống như thông tre, cây hoàng đàn, cây huỳnh đường (Nhóm I)…Tên thương hiệu tồn tại trong trang sách như một kỷ niệm đau buồn. Có một loại gỗ, có thể nói là quý nhất trong thực vật rừng Việt Nam. Loại gỗ này ở nước ta tôi chưa thấy ai sử dụng, gỗ được vận chuyển bán qua biên giới sang Trung Quốc. Không phải vùng rừng nào cũng có loại gỗ này. Cách đây một vài năm gỗ được khai thác từ phía Tây dãy Phong Nha - Quảng Bình, theo đường sông về Phà Danh, cho vào các khoang bụng của xe vận tải hành khách hoặc chôn dưới đáy thùng xe chở phế liệu ra bắc ra Bắc. Bây giờ đường Trường Sơn đã thông tuyến, lúc nào đủ hàng, dân làm gỗ vùng Xuân Sơn – Phong Nha “phôn” là xe đến ăn hàng ngay, giá ở đây được bán theo cân, mỗi cân (kg) ba mươi ngàn đồng, nếu gỗ đẹp giá sẽ cao hơn. Trong lúc đó gỗ mun một loại quý hiếm giá chỉ đạt tới mức một nửa. Rất lạ là loài gỗ này không có trong danh mục 124 loại gỗ thực vật rừng Việt Nam. Trong hệ nhóm I, có một loại mang tên là Huê mộc nhưng theo cách tả hình dáng, kiểu lá, thớ gỗ và trọng lượng riêng thì không đúng với loại gỗ này. Theo các nữ quái rừng xanh người mà đủ tình cảm để tin cậy thì cách mua bán ở Hà Nội không dùng cân vì sợ ngâm nước. Giá mỗi mét khối thăng dáng quanh 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) gấp 7 lần gỗ lim: “Giá bán cho Trung Quốc bao nhiêu em không biết. Em chỉ biết đó là gỗ hoa”.
Tôi dạt về một thị trấn miền rừng, vào một quán nhỏ trang trí rất kiểu cách. Vừa vào đến cửa tôi giật mình sợ hãi một người đàn ông mặt đỏ gay đang ngồi gặm một bàn tay trẻ con, gac nhai rau ráu làm tôi lạnh gáy. Trên đĩa một bàn tay trẻ con khác được luộc lên bầm tím tái. Lão rướn mắt đỏ đọc nhìn tôi.
- Ăn gì? – lão hỏi. Có ăn tay khỉ, óc khỉ nháy thì vào đây, trên hành tinh này không nơi nào có món này đâu. Nhất quả đất đấy.
Tôi hoàn hồn sau lời nới của gã, chẳng lẽ bàn tay khỉ lại giống bàn tay trẻ con đến mức tôi không nhận ra sao. Giống đến mức ấy thì chẳng khác nào ăn tay trẻ con. Lão chủ quán lùn tịt, đầu tròn và nhỏ như quả bưởi Phúc Trạch bóng láng, nham nhở: “Vào đi”. Tôi theo lão ra sân sau cốt để xem họ ăn uống kiểu gì, còn tôi tự nhiên hết đói. Một dãy ba chiếc bàn gỗ dày, giữa bàn khoét một lỗ tròn, gần góc bàn có một thanh gỗ nhẵn bóng, gắn giưới thân gỗ là một lưỡi dao sáng loáng. Một đầu thanh gỗ được bắt cố định vào góc bàn bằng một con bu long lỏng. Nó giống như cái bàn thái khoai ở nông thôn. Trên mặt bàn, máu khô vương vãi.
- Ăn óc khỉ nháy hí – lão hỏi.
Tôi đang lúng túng thì rất may có một người cao lêu đêu, mắt thâm quầng, da xám ngoét đi vào.
- Cho một óc khỉ - gã thều thào.
Thoáng một cái đã thấy lão chủ quán xách một con khỉ đã trói chặt chân tay lão luồn dưới bàn đẩy đầu khỉ lên cái gỗ tròn,xong lão bật giá đỡ cho đít khỉ ngồi vào vào giá lõm bật nẹp đứng khuy lại. Con khỉ bị bó dò kêu khẹc khẹc – xong rồi! Gã cười hì hì, xong gã quát: “Con Hín đâu đưa rượu và nước sôi ra ngay”. Cô bé chừng 16 tuổi da trắng mai mái như màu hoa bưởi buổi chiều, lặng lẽ đặt bát nước sôi và be rượu từ cái khay gỗ. Tôi đang quan sát cô bé chợt một tiếng hét rùng rợn, tôi quay lại, phần trên của đầu khỉ văng ra bàn xoay tít. Gã cao gầy điềm nhiên dùng cái thìa gỗ múc vào óc khỉ. Con khỉ chưa chết hẳn rít lên thảm thiết. Tôi bàng hoàng lẻn ra ngõ choáng váng sợ hãi tìm về phòng trọ…
Sa vẫn ngủ lù trên tay tôi. Có lẽ từ ngày quen nhau tôi chưa bao giờ tôi ghét Sa đến vậy. Dù cô chỉ là con mèo con bắt chuột nhắt. Nếu như một số người thành phố còn lấy tay gấu ngâm rượu làm sang, lấy thịt rừng làm trọng, thì em và bao nhiêu người như em, hơn em sẽ còn mải miết phục vụ những cuộc vui bất tận. Rừng Việt Nam còn gì? Và cả Thái Lan, vùng Đông Nam Á này. Mọi thú vui xa hoa bắt đầu từ thành phố. Mỗi tỉnh trung bình có 15 quán thịt rừng, (liệu thú rừng có còn sống sót). Lâm tặc thì biết rồi “Bố” sinh ra và nuôi dưỡng họ là ai? Điều này đành dành lại cho những người có thẩm quyền phán xét.
Hà Tĩnh tháng 8/2003
Miền đất hoang vu và những mùa tình hoang dại
March 13, 2008
Như loài hoa trinh nữ mọc miên man qua những triền đồi, con gái miền Choi coi như ngọn gió hoang, phóng khoáng cuốn theo những mùa tình hoang dại và không ít người trong số họ, má vừa chớm dậy thì đã qua mùa trinh nữ. Nỗi khổ đau không phải ở chỗ “nghìn vàng biến mất” mà là: đời này tiếp đời khác những cuộc hoang tình triền miên bất tận. Con không có cha, vợ không có chồng, dân vùng thượng gọi chung cho những người đàn bà không chồng là “Tre cụt ngọn”.
I – ĐÊM MIỀN SƠN CƯỚC
Mồng 7 tết mà mùa xuân vẫn chưa về. Mưa, trâu kéo gỗ và những xe công nông đua nhau bằm nát những con dốc đất đỏ trơn tuột. Và bây giờ xe công nông cũng như một thứ phụ hoạ cho con đường kinh khủng nằm lại hếch mõ chờ nắng lên. Gã xe ôm chạy con Minscơ nhìn dốc để tìm đường lên, không có rãnh nào không lút đầu gối, xen kẻ giữa những rãnh hoăm hoẳm là những đường sóng trâu nhọn ngoằn nghèo và nhẫy, gã phán: “bom chiến tranh chưa là cái gì, thôi anh đi cho khéo kẻo trượt chân là vứt ống đồng đấy” gã quay đầu vù ga khét lẹt chạy trệo trạo trở về, còn một mình tôi bắt đầu thấy ớn, khó mà tìm được lối lên. Đôi “ống điếu” của tôi lâu nay chỉ sử dụng đi lại ở cự ly gần, liều là vứt đi. Tôi đành men theo chân ta luy lọp bọp ngoi lên dốc. Khi cái thứ màu đùng đục như khói bánh chưng sũng nước từ trong núi đùn ra mờ tịt, tôi mới lên được đỉnh dốc. Từ dốc Mụ Bà cho đến Cho Co chừng 10km, không thể đi xuyên đêm. Tôi lần đến một căn nhà có ánh lửa cách con dốc không xa.
- Ai đó?
- Tôi ở dưới xuôi lên.
Trong ánh sáng thập thò hắt lên từ bếp lửa, tôi thấy người thiếu phụ thấp đậm, mặc áo cộc, quần xắn quá đầu gối. Có lẽ như cái giá buốt không ý nghĩa gì đối với chị ta.
- Đi lò mò cả đêm không sợ gì à. Không biết mồng 7 là ngày khai hạ à.
- Lỡ đường rồi vào xin anh chị nghĩ nhờ một đêm mai đi tiếp.
- Làm chi có anh – tui ở với 3 đứa con, mà có muốn ngủ thì trải ni lông giữa nhà, được một giường 4 mẹ con tui nằm chật rồi.
Trên chiếc giường kê ở xó nhà mấy đứa trai gái lớn bé nằm gác lên nhau gáy xo xo. Mùi khoai lang mật chui qua khe hở của vung thơm ngọt lựng làm bụng tôi cồn cào.
- Khoai cháy. Tôi buột miệng.
Cháy một chút mới ngon chị bảo thế và nhắc nồi xuống rồi đổ úp vào chiếc cạu gác sẵn trên cái cối đâm bột. Chị bảo: “Nhà hết gạo lâu rồi chú ăn khoai thì ăn”. Đói quá tôi vừa thổi phù phù vừa cắn ngốn ngấu những miếng khoai đỏ sẫm mềm và ngọt rút. Khi tôi ngẩng lên thấy chị đang cười.
Nụ cười làm khuôn mặt chị rạng rỡ, đôi mắt nheo nheo hấp háy trong trẻ trung và tinh nghịch lạ lùng. Tôi và chị ngồi lặng lẽ rất lâu. Bếp lửa ấm rực, mùi nước chè xanh, mùi hôi nách từ chị đọng lại trong túp lều lợp lá cọ tạo nên không gian ấm cúng lạ thường.
- Hồi trẻ chắc chị xinh lắm.
- Xinh mần chi cho vô duyên. Hồi mới 16 tuổi bằng con ni (chị chỉ đứa con gái đang ngủ khèo trên giường) đã có mang nó đấy.
Miệng nói mắt chị mơ màng, không biết chị sung sướng hay bồn chồn tôi cũng bần thần như trôi theo chị về tuổi 16 xa xăm.
… Đêm ấy trăng mờ, lũ con trai, con gái kéo nhau ra đồi sim tán gẫu như mọi lần rồi tản mác đâu đó sau những lùm sim dại. Chị đang định ra về thì thằng T cầm tay kéo đi. Người chị đột ngột nóng ran đến chỗ lùm cây quá đầu người, hắn kéo chị ngồi xoài xuống và ôm chầm lấy. Chị nghe ngực rưng rức, toàn thân tê dại và mê mệt không còn biết gì nữa.
- Hồi đó tôi ngu lắm cứ tưởng bụng giun, xổ mãi không còn được con nào, càng xổ bụng càng to. Sau cùng mẹ tui biết chuyện đi tìm thắng T thì nó đã đi Miền Nam làm thuê từ lúc nào.
Chị có buồn không?
Lúc đầu thì có nhưng sau đẻ con ra cảm thấy vui. Ở đây chuyện chửa hoang là bình thường. Mình đẻ mình nuôi nhờ vả chi ai mà ngại.
Thế bố của các cháu bây giờ ở đâu?
- Bố cao su chi mô nờ. Ba đứa ba cha. Một lão đi làm thuê rồi đi lấy vợ ĐắcLắc không về. Một lão đi trầm đến ở đây rồi mất hút. Một lão đào vàng. Ba lão trướt mất cả ba. Con ốm đau không được một nghìn mua dầu cù là. Tội, chúng nó nỏ được học hành chi cả. Con đầu đang đòi đi theo bạn bán hàng ăn dưới Voi. Ngày mai tui cho nó đi, kiếm cái quần cái áo mặc cho tử tế.
- Ngủ đi.
Chị cầm tấm ni lông được chắp lại bằng những bì phân đạm u rê đã cứng queo vàng đục rải xuống nền đất, xong chị ngồi lên thành giường hai chân xoa xoa vào nhau và thổ bèn bẹt cho rụng đất, ẩy bọn trẻ vào trong và nghiêng xuống giường. Tôi dùng cái gối, quay người về phía bếp lửa, tội nghiệp cái mạn sườn của tôi tì lên cái nền nhà lổn nhổn và lạnh buốt, gió chui qua ngạch cửa vuốt dọc sóng lưng. Nghĩ là chẳng thể nào ngủ được vậy mà tôi thiếp đi lúc nào không biết. Một gã bóp chặt cổ tôi mắt long lên, tôi giật mình tỉnh giấc và mừng. Chẳng có gã nào cả chỉ có một cái bắpchân ai đó gác qua cổ tôi, tôi nâng cái cổ chân qua đầu và đặt sang một bên.
Lúc này tôi đã tỉnh hắn, sao tôi lại nằm trên giường! Chắc đã khuya lắm, bếp lửa đã lụi chỉ còn ít than ửng lên đủ nhìn thấy lờ mờ người đàn bà nằm chòng quèo dưới đất. Sao chị lại đổi chổ cho tôi và đổi chổ bằng cách nào? Tôi chong mắt không tài nào ngủ được nữa, phần thì thương chị, phần thì quá đỗi hoang mang.
II – “CON XÚC XẮC” TÌNH OAN NGHIỆT
Từ hun hút tận ngàn xưa, nơi đây có một vùng đất có cái tên rất lạ, rất lạ bởi vì nó rất gợi, cái tên: Cho coi. Cho Coi cái gì? Không ai truyền lại chỉ thấy con gái ở đây rực lửa. Trong mắt họ như có tia sáng mặt trời trú ẩn. Tôi đến Cho Coi vào lúc sang trưa, mới mồng 8 tết, con trai làng đã đánh trâu vào rừng kéo gỗ. Cho Coi đẹp và nghèo với những dải đồi sim lặng lẽ như nín thở chờ người khác phá, con suối vội vã chảy trước nhà và không gian trầm tư thoáng đãng. Tôi vào nhà trưởng thôn: Lê Xuân Đức, anh đang chuẩn bị hòm xiểng cho con gái vào Nam.
- Anh được mấy đứa?
- Bốn đứa. Con này là con đầu cho nó vào Nam kiếm cơm.
- Anh chị cũng đẻ khoẻ đấy chứ.
Tôi là người mẫu mực nhất làng trong vấn đề sinh đẻ đấy bố ạ. Lính về, lấy vợ muộn, đẻ muộn. Ở đây vợ chồng người ta đẻ 8 đến 10 đứa là bình thường. Trừ những trường hợp không chồng, chồng bỏ thì mới ít con thôi. Ông Hiệu xóm tôi mới 46 tuổi, ba vợ 17 đứa con, bà Tuế, bà Uyến, bà Luyện mà đẻ hết trứng thì ít nhất cũng 17 đứa nữa.
- Nghe tin “tre cụt ngọn” xóm mình nhiều lắm?
- Xóm thì nhiều vừa vừa còn cả xã thì bát ngát. Số chửa hoang chiếm tỉ lệ rất cao. Tôi biết cách đây 2 năm ngành Y tế thống kê xã có 70 trường hợp không chồng bây giờ thì chắc hẳn hơn trăm.
- Có trường hợp nào bi đát lắm không?
- Anh cứ đi khắc biết, mênh mông những chuyện bi hài. Xã Kỳ Thượng có 11 xóm, 13 địa bàn có 90 đàn bà không chồng ở lứa tuổi sinh đẻ…
Căn nhà tối lờ mờ vẳng tiếng ru ơi hời như vọng từ tiền kiếp, có lẽ thứ lần đầu tiên tôi nhìn thấy là ánh sáng hắt ra từ mắt bà, một thứ ánh sáng hoang dại không chịu tắt dẫu đã gần ngót một thế kỷ trôi qua. Ngồi một lúc lâu tôi mới thấy rõ bà ngồi trên chiếc võng gai, trong lòng bà một đứa trẻ chừng vài ba tháng tuổi đang ngủ tít, bà nhớ láng máng bà đã sống chừng 75, 80 năm gì đó nhưng cuộc đời bà thì bà nhớ rất rành rọt, có lẽ đó là những vết thương lòng bà không ai chữa giúp nó đau đến tận bây giờ. Tôi là kẻ đầu tiên khơi nguồn ký ức cho bà, bà bảo mấy chục năm rồi không ai thèm nói chuyện với bà, thế là nỗi ấm ức trong lòng bà vỡ oà ra. Ngày tuổi bà thập lục, mặc mấn ru bầm, yếm sồi thế là mỗi lần đi chợ bọn con trai cứ bám lẳng nhẵng không cho về, trong số đó có một người bặm trợn dám đương đầu với cả lũ con trai để bảo vệ. Bà mê ông, đêm đêm trốn nhà ra đồi, đó là những ngày hạnh phúc nhất đời cô Thá. Ít lâu sau, bụng Thá dần dần đầy lên, đến tận bây giờ bà Thá cũng không hiểu sao được người đàn ông bà không muốn nhắc tên ấy lại không cưới bà. Ở làng bên có người đàn ông họ Cao đã luống tuổi muốn theo cô Thá về làm vợ lẻ, bà nhắm mắt theo ông. Đứa con của mối tình hoang dại ra đời mang họ Cao: Cao Thị Tâm, Tâm lớn lên hồn nhiên xinh đẹp và bạo liệt. Bỏ lại những đứa em cùng mẹ khác cha từ biệt ngôi làng heo hút, đói nghèo Tâm lần ra thành phố…Đứa trẻ chợt ho hoe khóc, bà ngừng kể để nựng nó…ù ù thằng cha mày khái bắt đi đâu, không cho con được đọi đường quấy bột ù ù. Nín đi chắt ngoại của bà. Bà vừa nựng vừa rủ rỉ: Con Tâm đi chừng một năm, một đêm thấy nó gọi cửa, tui ra mở cửa, thấy nó bồng trên tay một đứa đỏ hỏn, quần áo còn bê bết, tôi hoảng hồn gọi mấy chị em nó dậy bỏ lửa, nấu nước tắm rửa cho hai mẹ con. Ở nhà được gần một tháng, một bữa nó bảo tui: Mẹ ơi bồng cháu cho con một tý. Thế rồi chiều tối không thấy nó về, con bé đói sữa khóc ngất. Chưa được một tháng tuổi không ăn được gì bà đành quấn giẽ, ẵm cháu đi xin sữa. Một ngày , rồi một tuần, rồi một tháng chẳng thấy con Tâm trở về. Người thì cho rằng nó đã đi tự vẫn, nhưng bà biết tính nó, nó không phải là đứa yếu mềm, nó đã bỏ đi rồi. Ngày ngày bà ẵm cháu đi xin sữa những mụ đẻ trong làng, nhận đủ điều xỉ vả: “Đồ mẹ nào con nấy”, “Con hư tại mẹ”. Bà cay đắng vô vàn, cay đắng gấp trăm lần ngày bà trót dại. Bà ôm cháu khóc hu hu, đứa cháu tội nghiệp không có sữa khóc đít teo, chân còn da bọc xương ai cũng bảo nó chết. Con bé phải ăn nước cháo khi vừa đầy vừa đầy tháng, bà không thể chịu nhục thêm được nữa, sống chết nhờ trời, không có sữa thì nuốt cháo, hết gạo thì uống nước bột sắn mài. Bây giờ có tiền là có đường có sữa, con cái thời ấy thắp đuốc cũng chẳng tìm ra. Ba năm cháu gái tên Linh vẫn chưa biết chững. Trong làng hễ nơi nào làm thịt chó là bà xin chân về hầm cho cháu ăn. Linh ăn hết 8 đôi chân chó thì đi được.
Khổ cái thân tui chú ạ, đây không phải là lần đầu mà trước khi sinh con Linh nó đã mang về một thằng con trai rồi lặng lẽ bỏ đi.Vài năm sau nó lại đưa về tiếp một thằng nữa rồi lại đi biệt. Nghe tin nó đi tù, ra tù nó đưa về thằng con trai lớn đi theo cứ tưởng nó đưa con đi học hành ở đâu nào ngờ nó đưa thằng Kiên ra Hưng Yên lừa thế nào cắm được chục triệu đồng rồi mất hút. Bây giờ nó đang đi tù ở Đồng Sơn - Đồng Hới - Quảng Bình, nó viết thư về cho cậu mợ bảo đang ốm. Biết vậy thương lắm nhưng lấy tiền đâu mà đi thăm, đời tui cực, đời nó còn cực hơn nó đi tù như đi chợ. Tù ở Cầu Đông Hà Tĩnh 2 năm, trại 6 Nghệ An 3 năm, Huể, Đà Nẵng 4 năm, Quảng Bình 3 năm. Nghe nó bảo tháng ni được ra tù. Linh vừa đặt gánh củi xuống chạy ra ôm con và cho con bú. Mới sinh được một tháng Linh phải vào rừng chặt củi. Bà thương Linh đau yếu từ bé nhưng chẳng biết làm sao. Bây giờ thằng bé đã được hơn một tháng.
Mấy mẹ con bà cháu sống nhờ vào ông cậu làm nghề mổ lợn. Linh như con “xúc xắc” ái tình, bà gieo từ thuở trước, mẹ Linh nhặt lấy và ném xuống đời Linh. Linh yêu S làm nghề chữa xe máy ở chợ Kỳ Thượng. Cũng như bà, như mẹ, Linh yêu đắm say mà không hề nghĩ rằng mình bị phụ bạc. Khi Linh báo với S. “Em đã có thai”. S lặng lẽ lảng tránh, vốn là một gia đình gọi là có chút máu mặt, bố mẹ S từ chối thẳng thừng. Bà Thá ngậm ngùi nuôi con, nuôi cháu và bây giờ là chắt ngoại. Không biết rồi Linh có nhẫn tâm bỏ bà ra đi như mẹ mình không. Dòng sông tình hoang dại chảy qua đời bà, con gái bà và cả cháu gái và biết bao nhiêu con gái khác. Một dãy đất Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng có đến hàng mấy trăm người đàn bà không chồng, họ sống hồn nhiên như cỏ cây muông thú. Họ sống hoang đàng thoả mãn những cuộc tình hoang dã. Họ không cần biết cuộc đời những đứa con họ sinh ra sẻ đi về đâu.
KHẮC KHOẢI VÙNG SÔNG NHE
Con sông Nhe lặng lẽ chảy qua cánh đồng, chảy qua ký ức tuổi thơ bao nhiêu thế hệ, dòng sông dịu hiền ôn hoà quá đỗi, thế nên chẳng có bên lỡ bên bồi. Xã Vĩnh Lộc nằm bên hai bờ sông một vùng quê nhỏ bé đủ để tiếng chuông chùa vừa rung lên ở Vĩnh Phúc đã nghe ngân nga phía Hạ Triều. Ngày giặc Mỹ ném bom xuống cầu Nhe, dòng sông hoá dòng nước mắt, âm thầm trôi qua làng. Đôi khi những buổi sau chiều từ đâu đó vời xa, biển đẩy nước về trả lại cho sông. Cứ như dòng sông đưa về biển những giọt điêu linh mà biển không thể nào chứa nổi. Tôi ngồi bên cầu Nhe xưa, chiếc cầu giờ chỉ còn một nhịp. Một nhịp đã bỏ dòng sông ra đi cùng với 53 chiến sĩ và 17 người dân trong trận bom Mỹ trưa ngày 15 tháng 4 năm 1968.
Mặt trời đã xã hết cơ số nắng cuối cùng rồi biến mất. Còn lại tôi và ông Cội. Ông nhìn như thôi miên xuống dòng sông đắc quánh hoàng hôn. Hình như ông thấy cái gì đó, ông là người một nửa của dương gian. Tôi đang nghĩ về ông như vậy. Đột nhiên ông thốt lên, đây có 70 người chết. Tôi nhìn xuống dòng sông đen ngòm chẳng thấy gì chỉ có cảm giác như có con rắn vừa luột ngược sống lưng. Vừa định thần thì một bàn tay lạnh buốt lầy nhầy cầm tay tôi kéo đi, được khoảng chục bước, ông dừng lại bảo: “Đây này! Ngay đây ông Út xóm Hạ Triều đã đào được”.
- Đào được cái gì? Tôi hỏi.
- Một anh bộ đội.
Giọng ông bập bùng khi tắt khi đỏ, quá khứ chợt hiện qua sáng tối lờ mờ.
Ông Bùi Quốc Út đang đào mương làm thuỷ lợi chợt chạm phải một vật gì đó đánh cạch một cái, tự nhiên trong người ông có cảm giác rất lạ chưa từng thấy bao giờ. Bất giác ông bỏ ven dùng tay bới đất, lát sau một khẩu súng được moi lên. Đó là một khẩu súng AK đã mục hết phần gỗ. Mọi người xúm lại giúp ông bới tiếp, một vật tròn tròn lộ ra, có lẽ là một quả mìn định hướng. Nghe vậy mọi người dạt ra. Không phải, đó là một chiếc bi đông nhôm, kéo theo một chiếc thắt lưng màu máu khô. Cuộc đào bới bằng tay diễn ra thận trọng và trang nghiêm. Bộ hài cốt người lính ôm súng gần như nguyên vẹn hiện ra. Thi hài anh được khâm liệm, đưa về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Lộc. Đêm đó lễ truy điệu được cử hành. Trong nhà ngoài sân chật ních người, đủ các thành phần già, trẻ, trai, gái. Cán bộ huyện về tiến hành lễ tang, phút mặc niệm cả sân người im phăng phắc. Bó hương bất chợt bùng lên cháy rần rật như báo hiệu hồn người đã về nhập xá. Anh Nguyễn Văn Thạch xã đội trưởng được Đảng uỷ giao cho nhiệm vụ thay mặt thân nhân người đã khuất túc trực làm nghi lễ, lạy tạ lễ bà con đến phúng viếng. Hoa quả, bánh kẹo, hương rượu dâng hồn người đi, như anh vừa mới hy sinh hôm qua. Chỉ có bức trướng là không có tên. Buổi chiều anh Thạch đã kỳ cọ rất kỹ chiếc thắt lưng và cái bi đông hy vọng tìm ra tên người khắc lên đó nhưng anh đành thở dài: “Thêm một liệt sỹ vô danh”. Có việc cho rằng việc người lính ôm súng xuất hiện không phải là sự ngẫu nhiên mà do đồng đội anh cử về báo: Chúng tôi đang ở đây…
Lúc đầu tôi rất mê ông Cội, ông là lính thời chống Pháp. Nhập ngũ năm 1950, ra quân năm 1957, hai Huy chương hạng Nhất: 1 Huy chương vẻ vang, 1 Huy chương chiến thắng và hai vết thương trên mình. Trông ông bàng bạc như bức tượng mà não, nhưng càng về đêm ngồi bên ông tôi càng cảm thấy ớn lạnh, tưởng như hơi lạnh toát ra từ bức tượng biết nói này. Nhiều lúc tôi khiếp, muốn lái ông nói sang chuyện khác nhưng chẳng ích gì. Lời ông đen sóng sánh như dòng sông đang trôi, khởi nguồn từ ký ức xa xăm một thời bi tráng.
Ngày ấy cách đây 35 năm, ông Nguyễn Huy Cội là xã đội trưởng xã Vĩnh Lộc huyện Can Lộc. Trưa ngày 15 tháng 4 năm 1968 có 3 đơn vị bộ đội trên đường hành quân vào Nam chiến đấu khi qua cầu Nhe bị bom Mỹ đánh vào giữa đội hình. Cầu Nhe tan một nhịp, sông Nhe đỏ máu lẫn bùn đen. Các đơn vị củng cố đội hình tiếp tục hành quân, giáo lại cho địa phương số chiến sĩ thương vong còn tản mác đâu đó trên lòng sông, trên cánh đồng lúa tháng 4 bỏng rát. Dân đổ ra sông ra đồng kiếm người thân. Chính quyền gấp rút tổ chức lực lượng mang người đi cấp cứu tại bệnh viện sơ tán. Ông Cội được giao nhiệm vụ tổ gom thi hài…
- Không còn thấy người lành lặn đâu chú ạ. Ông thở hắt ra và nói tiếp: Tôi phải cắp bì con én đi dọc dòng sông lội qua ruộng lúa đi nhặt từng mảnh xương, mẫu thịt…Để sót là có tội chú ạ. Thấy trong hòm nhiều nhiều một tý là mình đỡ đau ruột. Có lần giữa ruộng lúa chợt thấy tia máu vọt lên từ ụ đất mới, gọi anh em đào bới lên thì máy bay đến ném bom. Mãi đến tối anh em mò ra bới đất mang người về. Anh bộ đội có giấy tờ mang tên Huỳnh Văn Kháng quê ở Hải Phòng. Mang anh về làm lễ truy điệu và mai táng xong, lại có tin phía hạ lưu sông đẩy người lính vào chỗ cạn và vác lên. Lúc này thi thể người lính đã vỡ ra chảy ròng ròng theo người tôi. Người lính đó tên là Nguyễn Văn Giới quê ở Hải Phòng. Làm lễ xong lại đi. Quần đảo với nắng tháng tư giữa tơi bời những sinh linh tử trận. Tội nhất là ông Chính trị viên huyện đội Can Lộc chú ơi! Cái hòm rộng thênh thang chỉ có một khúc ruột cuộn dính chặt vào cái thắt lưng (may mà thắt lưng có tên) còn người bay đâu mất không còn một mảnh. Thế mà chỉ tìm được 22 người trong số 53 chiến sỹ. Lâu lâu người vạn chài lại mò được cái mũ cối, đôi dép đúc, một cái ví có ảnh con gái nhoè nhoẹt không nhận ra mặt, một đoạn xương ống chân. Họ mang về chôn bên bờ sông và thắp hương cầu khấn.
Đã 35 năm trôi qua. Đoàn quân ra trận ngày ấy không biết ai còn? Ai mất? Nhưng rồi có một buổi chiều, đó là ngày 31 tháng 5 năm 2003 anh Phạm Văn Mừng là lính trong đoàn quân ngày ấy từ Kiến Thuỵ, Hải Phòng trở về Vĩnh Lộc. Anh lội ào ào qua sông nơi ngày xưa bom đánh, khóc tức tưởi, nước mắt rần rần. Không biết đồng đội có nghe tiếng khóc của anh không. Người dân Vĩnh Lộc đón anh như một ông vua, ông vua hiện về từ cõi tâm linh, thoả tấm lòng khao khát của người dân thay cho linh hồn những người khuất nẻo. Chưa bao giờ họ cảm thấy âm dương gần gủi đến thế. Có đồng đội về thăm rồi! Tiếng ai đó nghe nghẹn ngào. Qua anh mọi người được biết qua đơn vị ngày ấy dẫu có mất mát ở chiến trường nhưng vẫn còn phiên hiệu và chiến thắng trở về. Những vui buồn xa cách, những chuyện về đồng đội nằm lại của anh, những dự kiến cho thời gian tới đan xen núi anh đến tàn canh. Sáng sớm anh lên nghĩa trang thắp hương cho 16 liệt sỹ. Còn 37 người không biết thắp hương vào đâu, anh cắm hương bên mố cầu Nhe lan tràn cỏ dại. Trước lúc ra về anh gửi lại cho chính quyền xã một lá thư cũng không hẳn đó là một lá thư, nó như một lời ước nguyện từ tấm lòng một người lính đối với đồng đội đã hy sinh. Tôi xin phép anh Mừng được ghi lại nguyên văn tờ thư.
Ngày 31 tháng 5 năm 2003
Lưu Trọng Quát liên lạc đại đội 2 D351, số điện thoại: 065.647179
Đồng chí Thành trợ lý quân lực D351 huyện Tiên Lãng - Hải Phòng
Đồng chí Khải 48 đường Tô Hiệu - Quận Lê Chân - Hải Phòng
Phạm Văn Mừng đại đội 2 D351 E7 F350.
Hành quân vào Nam trên đường tới địa phận cầu Nhe xã Vĩnh Lộc thì bị máy bay Mỹ ném bom xuống cầu, đơn vị trên cầu hy sinh tới nay chưa xác định được cụ thể bao nhiêu?
Nhân danh là cá nhân còn sống nay trở lại thăm lại cầu Nhe tôi có vài điều mong được Đảng và Nhà nước quan tâm.
1. Thành lập Ban liên lạc giữa D351 với chính quyền xã Vĩnh Lộc.
2. Bộ Chỉ huy thành đội Hải Phòng F350 và Quân khu 3 có kế hoạch cùng với địa phương giải quyết những tồn tại sau chiến tranh theo ý nguyện của thân nhân, liệt sỹ cũng như chính quyền địa phương.
3. Dựng bia tưởng niệm để nhân ngày 27 tháng 7 hàng năm anh em D351 tổ chức vào thăm viếng.
Cuối cùng tôi rất mong được sự quan tâm của các cấp chính quyền của hai địa phương Hải Phòng và huyện Can Lộc tạo mọi điều kiện để toại nguyện ý nguyện trên.
Phạm Văn Mừng
Ngày 10 tháng 7 năm 2003 UBND tỉnh Hà Tĩnh triệu tập gấp rút cuộc họp về việc tiến hành khoanh vùng tìm kiếm hài cốt liệt sỹ khu vực cầu Nhe, xây dựng đài tưởng niệm và khắc bia 53 liệt sỹ đã hy sinh tại nơi này. Cuộc họp được các tổ chức liên quan thống nhất và đi đến quyết định. Hoàn thành công việc tìm kiếm hài cốt xong trước mùa mưa bão. Trong cuộc họp đồng chí Trần Đức Hạnh – Phó Chủ tịch UBND huyện Can Lộc sau khi phát biểu đã đọc một lá thư viết vô cùng xúc động của anh Đỗ Văn Sơn – xóm Bấc – xã Phục Lễ - huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng tôi xin trích một đoạn trong lá thư này.
“Đơn vị chúng tôi là Tiểu đoàn 351 Trung đoàn 7 Quân khu 3, toàn là lính Hải Phòng trừ một số cán bộ sĩ quan là ở các tỉnh khác (số hiệu đi B là đoàn 1019) chúng tôi nhập ngũ tháng 12 năm 1967. Ngày 11 tháng 3 năm 1968 thì đi B. Đúng ngày 15 tháng 4 năm 1968 đi qua xã Vĩnh Lộc. Hôm ấy tôi nhớ trời rất nắng, lệnh của Tiểu đoàn trưởng là cố gắng đi qua cầu sang xóm bên kia nghỉ, lúc đó đã gần 12 giờ trưa. Đột nhiên máy bay Mỹ tới ném bon đúng giữa cầu Nhe. Tức là giữa đội hình Tiểu đoàn chúng tôi, cú đánh bất ngờ chúng tôi chỉ kịp lăn ra vệ đường và lao xuống ruộng lúa. Khói mù mịt chẳng biết ai còn, ai mất…
Sau khi giải phóng miền Nam, chúng tôi trở về quê hương, nhưng đa số anh chị em thương tật ốm đau, nhiễm chất độc hoá học nên sức khoẻ yếu, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Nên dù có những ước muốn, muốn về thăm lại chiến trường xưa hay trở về cầu Nhe thắp hương cho đồng đội đã hy sinh cũng khó thực hiện được…”
Do chiến tranh, tài liệu và danh sách liệt sỹ bị thất lạc. Tháng 7 năm 2002 Chủ tịch và Bí thư UBND xã Vĩnh Lộc đã ra Hải Phòng đến các đơn vị có liệt sỹ hy sinh ngày 15 tháng 4 năm 1968 tại cầu Nhe để xin danh sách về khắc bia tưởng niệm gồm: Tổng cục Hậu cần 22 liệt sỹ, Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng 10 liệt sỹ. Riêng 20 liệt sỹ thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 3 chưa lấy được danh sách.
Đọc hết số giấy tờ, ban chiều anh Ân - Chủ tịch xã Vĩnh Lộc đưa cho tôi, đang đọc tiếp tên và quê quán các liệt sỹ thì tự nhiên đèn pin tắt ngấm. Tôi quay sang ông Cội, ông đã biến đi từ lúc nào. Trăng đã leo qua ngọn tre, trăng 14 tròn ngơ ngẩn. Đâu đó mùi hương trẻ bồn chồn vẵng qua trong gió. Người ta nói rằng khói hương là chiếc cầu người sống bắc cho người đã khuất đi về. Tôi cứ băn khoăn lỡ khoảng cách xa quá cầu vồng khói không bắc được thì sao. 35 năm đã qua đi. Xung quanh tôi các anh vẫn còn nằm khuất lấp đâu đó bên bờ sông trên cánh đồng chiêm trũng.
CHUYỆN KỂ TIẾP:
BÊN DÒNG SÔNG NHE
Đã từ lâu, rất lâu khi kết thúc chiến tranh, những người thân đi tìm những người thân nằm trong lòng đất ngày càng trở nên ráo riết hơn. Từ những ngày ấy tôi đã khát khao có hàng loạt máy dò hài cốt để mang người “Đã khuất” về quê hương. Ai cũng sinh ra và lớn lên từ một vùng đất nào đó, ký ức cuộc đời thường mang đậm những khoảnh khắc ấu thơ và tháng năm chập chững vào đời. Những người xa xứ khi về già ai cũng vọng nhớ cố hương và những “người đi” chắc ai cũng muốn về quê cha đất tổ. Nửa thế kỷ qua con người đã làm được bao điều kỳ diệu. Phát minh ra biết bao thiết bị hiện đại những thứ tưởng chừng như không thể. Tôi cứ day dứt mãi tại sao lại có máy dò hòm mìn, dò vàng và bao nhiêu thứ khác mà tịnh không có dấu hiệu nào phát minh ra máy dò hài cốt. Lẽ nào loài người không thể làm được điều này. Tôi đã lặn lội tìm một số bạn bè cũ, bây giờ họ là các nhà khoa học. “Mày là thằng hâm, quên ý nghĩ đó đi. Thời đại bây giờ phát minh những gì ra tiền. Làm khoa học mang tầm vóc thời đại chứ không là hoài cổ”. Tôi thật sự buồn đành đem khát vọng của tôi nói với thằng bạn lính. Giá bây giờ có máy dò hài cốt, trên đó gắn màn hình hiển thị thì quý biết bao nhiêu. Trong không gian có còn những vùng âm thanh thuộc về quá khứ làm sao thu về, lập một ngân hàng âm thanh. Có thể trong đó lời tỏ tình của những người lính trước giờ ra trận, lời vĩnh biệt của người tự nguyện cắt ngang nửa phần sau của đời mình trao cho Tổ quốc hay hay lời ru của người mẹ mà thuở ấu thơ khi ta mới là con người tự nhiên chỉ biết nghe mà chưa biết mẹ ta gửi gắm những gì trong âm thanh lời ru đó.
- Khó đấy! Nhưng nếu có nhà khoa học nào tâm huyết thực hiện ý tưởng của cậu chắc chắn sẽ có ngày thành công.
Tôi thấy nguôi ngoai phần nào sau lời an ủi của bạn tôi. Bây giờ miền tâm linh rộng mở, lan qua tình cảm con người. Âm dương gần gũi như bờ dậu láng giềng. Lòng hướng thiện của con người đang sống lại.
Tôi trở lại dòng sông Nhe một ngày khai Thu. Nắng ngổn ngang trên những vùng đất vừa được xén lên từ bàn tay của máy dò tìm hài cốt “420 máy dò di động” cần mẫn và chính xác không đế sót một khẩu xương hoặc bất cứ một báu vật nào.Một dải đất rộng hai bên bờ sông chừng một cây số được lật ngược lên nằm úp bát lên nhau. Qua tầng đất mặt, đến đất sét, đến đất gan trầu. Có những bộ hài cốt bị vùi sâu 2 mét. Lực lượng đoàn thanh niên, dân quân tự vệ được điều về từ 4 xã: Khánh Lôc, Nhân Lộc, Yên Lộc và Vĩnh Lộc. 420 người họ như những máy dò hài cốt và còn hơn thế bởi tấm lòng tình cảm và sự tôn nghiêm. Một lực lượng tự nguyện khác là những cựu chiến binh, linh cảm chiến tranh còn tồn tại vẹn nguyên trong họ. Họ nhận ra dấu hiệu từ màu đất, từ mùi bùn lạ hay một thoáng bất chợt rùng mình. Họ rửa ráy tỉ mẫn từng mẫu xương, xếp ngay ngắn vào quan tài và lời thì thầm chỉ đủ cho người đã khuất nghe.Nhìn đống di vật được gom về để dưới đất, tôi bảo các anh cẩn vệ đưa đặt lên bàn. Một cái núm mũ cối, một chồng công binh, một quả lựu đạn, một lọ thuốc chống vắt, cột cái dao găm hoen rỉ, một đôi dày vẹt gót, ba chiếc dép đứt quai. Tôi rụ rời thương về câu thơ thiêng ai đó gửi người yêu cũ. “Anh đi vẹt tháng năm dài. Thời gian theo dép thay quai chuyển mùa”. Tôi cầm chiếc lược nhựa màu đen, lật qua lật lại trên vành lưng lược còn nguyên hai chữ Tiền Phong, một chiếc lược sừng khác đã gãy một nửa. Ai đã tặng cho các anh chiếc lược này trước ngày ra trận?. Có thể là một người con gái anh yêu ký thác hết thảy tình cảm của mình vào đó và khi anh cầm chiếc lược lên mỗi sáng anh chợt thấy khuôn mặt người yêu ẩn hiện hay đêm về sau những ngày hành quân mệt lữ, anh lại móc chiếc lược trong túi cóc ba lô ra trò chuyện gởi gắm nổi nhớ thương về một miền quê xa lắc. Nơi đó đêm nay có người con gái đứng cuối bờ tre nơi hò hẹn xưa trăng sáng bồn chồn. Chiếc lược sừng hơi thô có lẽ là chị gái tặng em trai với lời dặn: - Vào bộ đội rồi em phải chỉnh tề vào, không phải lúc nào đầu cũng rối như tổ quạ …Bây giờ các anh nằm đó trong chiếc quan tài bằng sành thân hình thiếu hụt. các anh được đưa lên từ tầng đất sâu, dưới ánh đồng lúa còn xanh gặt vội, 24 phần hài cốt được khâm liệm, phủ cờ đỏ sao vàng, xếp hình theo đội hình hàng ngang trên những chiếc bàn kê cao trong căn nhà bạt dã chiến. Hai bên cánh gà lều bạt, hai người lính cảng vệ quân phục màu trắng bồng súng đứng canh giấc ngủ vĩnh hằng. Chúng tôi vào thắp nén hương khấn vái linh hồn các anh, khói hương bịn rịn như nửa buồn vui đón người từ cõi âm về thăm trần thế. Cháu Nguyễn Xuân Vũ từ Quốc Oai-Hà Tây được tin tìm về Vĩnh Lộc thăm cha là liệt sỹ Nguyễn Hồng Chức. Vũ quỳ trước 24 linh cửu khóc ngất ngư. Làm sao cháu biết được đâu là cha mình. Ngày anh Chức ra đi Vũ mới tròn 2 tuổi. Tình yêu thương cha lớn dần lên trong lời mẹ kể. Và biết đâu qua khói tâm nhang, qua tiếng khóc cha ấm ức, anh Chức đã nhận ra đứa con bé bỏng ngày nào. Các cụ già nhất quyết không cho mang các anh lên nghĩa trang liệt sỹ huyện. “phải để các con ở đây, lập nghĩa trang chôn tại đất này, hồn chúng nó còn ở đây, xương thịt còn thất tán ở đây”…
Nhớ hôm 14/7 âm lịch cuộc họp cuối cùng tại Sở thương binh xã hội quyết định cho việc khởi sự tìm kiếm hài cốt các liệt sỹ tại cầu Nhe. Anh Trần Quyết Thắng, phó Chủ tịch tỉnh giọng buồn như chùng xuống “ngày mai đã là ngày rằm tháng 7, để các anh yên nghỉ, hồn về với tổ tiên. Đến ngày 16 ta bắt đầu vào việc”. 5 giờ sáng 16, sương mù còn treo áo trên vùng cỏ may, ban chỉ đạo đã ra thắp hương. Thật lạ! khói hương cứ luẩn quẩn không đi và một tia gió rít mạnh, kẻ chỉ một vệt khói hương, như có linh ứng, những người cắm cọc tiêu, cắm theo đường gió, 8 giờ sáng cuộc tìm kiếm bắt đầu, những nhát ven căng chùng theo độ sâu, những cảm xúc buồn vui lo âu hồi hộp tan vào nhau không còn phân định nổi. Ai lại vui khi nghĩ về người đã khuất nhưng làm sao không vui khi 35 năm trời tìm thấy những liệt sỹ bơ vơ giữa đồng cỏ may, cỏ lác chưa có chỗ yên nằm. Theo vết cọc tiêu, hài cốt 7 liệt sỹ nằm thẳng hàng lần lượt được đào lên chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Nổi lo toan ban đầu của mọi người như vợi bớt. “ ơn trời thế là hài cốt vẫn chưa hoai thành đất” lời ai đó âm hưởng reo lên như tiếng chuông nguyện cầu. Hôm nay đã là ngày thứ chín, 24 bộ hài cốt “có bộ còn gần như nguyên vẹn”, đã được khâm liệm. 16 quả bom ném vào đội hình các anh, bảo làm sao nguyên vẹn cho được. Có thể những mảnh thân thể còn lại đã tan vào dòng sông, tan vào đất quê Vĩnh Lộc, tan vào 140 mùa mưa nắng bão giông. Ngày ngày gần 500 người như những chiếc máy vẫn đau đáu dò tìm. Đêm đêm bồn hương rực đỏ, lời khấn nguyện báo ứng như lối dò linh nghiệm. 3 ngày ròng rã mưa, mưa hối hả, những bờ tre, đồng lúa không kịp ngẩng mặt thế mà có một điều lạ, mưa quanh mưa quất riêng vùng dò tìm hài cốt gần 1km2 không hề mưa. Cứ như có bàn tay vô hình nào dương chiếc ô khổng lồ che chắn. Lâu lâu có những hạt mưa lạc về như báo hiệu sự mưa gần. Mấy trăm con người chứng kiến sự khác lạ của đất trời. Hài cốt những người còn lại bây giờ ở đâu? địa hình khai quật như một cuốn sách âm dương lâu ngày dính chặt vào nhau, những tầng đất bóc đi như dở từng trang sách bí ẩn. Bây giờ mọi người đang lo âu dỡ những trang cuối cùng đó là lớp đất gan trâu có chiều sâu trên 2m. Nếu không tìm thấy các anh thì sao? phụ lục – chính là dòng sông. Phải ngăn dòng sông bơm nước, bới bùn vét đáy, phải tìm đến cùng. Đó là nghị quyết của UBND tỉnh Hà Tĩnh và tinh thần quyết tâm của người dân ở đây. Lãnh đạo UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định chi 200 triệu đồng cho việc tìm kiếm và hậu sự. Chờ mãi vẫn chưa thấy lãnh đạo của các đơn vị có lính hy sinh ở cầu Nhe về thăm.
Đã gần 11 giờ trưa cả cánh đồng người vẫn mải miết bới đào tìm kiếm. Loa phóng thanh liên tục phát những bài thơ vừa sáng tác trên “mặt trận” có tác giả như cô Thanh chưa bao giờ làm thơ mà lời thơ dâng hồn liệt sỹ nghe buồn thương nẫu ruột. Từ hôm khởi sự đến giờ đã có gần 30 bài thơ, bài nào cũng cảm động. Sức lực, tấm lòng và cả tâm hồn của người dân Can Lộc đều hướng về các liệt sỹ đã hy sinh đó là những câu linh thi được bật ra từ linh giác. Tôi đã đi hầu hết các nghĩa trang miền Trung, từng chứng kiến cây Bồ đề tự nhiên mọc kề sau lưng nghĩa trang Trường Sơn, bỏ qua tháng năm trở thành đại thụ. Từng nghe lời kể về những người lính trong lòng đất tập thể dục hô 1.2.1. Âm âm trước khi màn đêm đi về phía bình minh, đã chứng kiến lễ thắp hương ở nghĩa trang Trường Sơn mỗi lần hết hơn 5 triệu tiền hương với 3 người đi cắm trên mộ một ngày ròng rã nhưng chưa bao giờ thấy gần 500 người lật ngược cánh đồng để tìm hài cốt liệt sỹ.
Chiều 25/8/2003, ngày thứ 12. Hàng ngàn người đổ về cầu Nhe. Cả một vùng đất rộng mênh mông không thể chứa nổi hết rừng người. Người tràn ra đường đứng chật ních trên cầu mới, có những cụ già lưng còng theo cháu dắt đi. Đoàn xe nườm nượp xích dần đậu san sát bên vệ đường. Hôm nay một ngày đại tang, 27 linh hài phủ cờ Tổ quốc, khói hương rưng rức, rân rấn mắt người. Đại diện các đơn vị có các chiến sỹ hy sinh đã về đông đủ. Bộ tư lệnh Quân khu 3-Tổng Cụ Hậu cần. Bộ chỉ huy quân sự thành đội Hải Phòng-Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Trong tỉnh gần 30 đoàn gồm lãnh đạoUBND tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự, Sở Công an, Sở Thương binh-Xã hội, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Đoàn thanh niên, lãnh đạo huyện Can Lộc và đại diện các cơ quan ban ngành.
4 giờ chiều, tang lễ cử hành, nhạc viếng hồn tử sĩ cất lên len vào hồn người nỗi buồn tê tái, phút mặc niệm cả rừng người lặng ngắt, cúi đầu tiễn các anh về thế giới ngàn trùng. Ông Trần Đình Đàn - Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh thắp nén tâm nhang, làm lễ dâng hương, khởi đầu lễ viếng, cờ, hoa rợp chỗ các anh nằm. Khói hương loang trắng một vùng. Trong làn khói âm dương ấy biết bao tấm lòng cháy theo nỗi luyến thương. 5 giờ đưa các anh lên xe về nơi an nghỉ với đồng đội trong nghĩa trang liệt sỹ dưới chân núi Hồng. Đoàn xe đi chầm chậm trong hoàng hôn ánh mắt. Và những giọt sương lặng lẽ lăn qua gò má của những mẹ già, em gái bên triền sông Nhe.
Cầu Nhe, tháng 8/2003
Những cư dân lá vàng
March 12, 2008
Tôi ngược rừng một ngày cuối xuân, Nắng lang thang trên những giãi đồi bạt ngàn hoa tím. Con đường qua những địa danh: Động Bụt, Khe Giao, Con Chôồng, Khe Bứa quá đỗi thân quen. Chỉ hơn hai mươi năm con người đã làm được một việc “phi thường” biến rừng thành đồi. Bây giờ họ đang cố biến đồi thành rừng. Trước kia tam giác: Đất Đỏ, Khe Bứa, Chông Kặc có đàn voi hàng mấy chục con, rồi voọc, chà vá và cơ man các loài thú quý. Bây giờ tất cả đều biến mất. Mỗi lần qua đây kỷ niệm buồn lại thức dậy trong tôi: Tôi nhớ ông Huyên làm nghề đốt than ở núi Đất Đỏ bị hổ vồ khi đang sàng than. Dân sơn tràng tìm được ông, bị hổ dấu trong bụi lau, vác về chôn cất. Nghĩa địa xa rừng hơn hai mươi cây số thế mà đêm hổ vẫn mò về bới mộ.
Lần này tôi lên rừng không phải đi tìm kỷ niệm mà do thôi thúc của sự tò mò về miền đất sơ khai.
Luồn qua những lùm bụi đặc quánh mà gót xe ô tô vừa khoắng lên đường Trường Sơn còn thi công dang dở, chúng tôi hướng về một miền sơn cước. Nơi đó cứ ám ảnh tôi qua lời kể bạn bè về một tộc người có cái tên rất gợi: “cư dân lá vàng”.
CHA 7km. Một lát sau, CHA 6km. anh bạn tôi ngồi sau xe đọc tên cột mốc bên đường. Hương cười rủ rượi và bảo không phải CHA mà đó là chữ Chúc A viết tắt. Hương thôi cười, em thầm thì vào vai tôi bí hiểm: “anh đi cẩn thận, đây là dốc Mộc Bài, xe đỗ, chết người, sợ lắm”. Tôi nhìn sang đường, một bàn thờ đơn sơ khói hương còn vật vờ lơ lửng. Xe chồm qua những hòn đá trọc lốc lăn lóc đầy đường hổn hển bò lên dốc. Từ lâm trường Chúc A đến bản Rào Tre chừng hai mươi cây số. Con đường có vẻ hiền hoà hơn, lượn qua những gò đồi thoai thoải, hai bên đường nở đầy hoa trập trội. Một loài hoa rừng có mùi thơm mê mải, dịu ngọt, cánh hoa mềm và thiết tha. Lúc đầu hoa màu xanh nõn, ít lâu sau chuyển sang màu vàng tươi và sau cùng vàng sẫm, đó là lúc hoa thơm nhất. Con gái xóm núi thường hái hoa về bỏ đầu giường. Hoa còn thơm mãi đến cả tuần trăng. Tôi đang miên man, chợt con đường đang đổ nhào về phía vực. Vực Chình, Hương thảng thốt, vực tròn và xanh rợn người như mắt quỷ. Mùa lũ trước, nước đã khoét sâu vào lòng đường tạo thành cái hàm ếch khổng lồ lởm chởm. Tôi cho xe rón rén bám về phía tà luy dương mà có cảm giác như đường đang nứt rạn dưới chân xe. Hương phả hơi thở nóng hổi dồn dập vào tôi. Hình như nãy giờ em nín thở. Qua cầu khỉ như cái bẫy người bắc trên con suối cạn đầy những đá thia lia, chúng tôi lọt vào thung lũng. Nghe tiếng xe máy lũ trẻ nhào ra, chúng nâu và bóng. Tôi có cảm giác như tạo hoá đùa nghịch, phết lên da chúng một lớp sơn mài màu cánh gián. Chẳng cần hỏi tôi cũng biết ngay chúng là “cư dân lá vàng” dân tộc Chứt.
Đội công tác đặc biệt của lực lượng Biên Phòng Hà Tĩnh vui vẻ đón chúng tôi.
Hương ở lại bản Doanh hát qua máy phóng thanh cho dân bản nghe. Tôi và anh Trọng Bính - người bạn thơ, ngược về phía bản. Từ xa những túp nhà như tổ chim đã qua mùa ra ràng xao xá ven đồi. Nhà đầu tiên tôi vào có hai cô bé. Thấy tôi họ bẽn lẽn không nói gì. Tôi hỏi bé lớn: “ Năm nay cháu bao nhiêu tuổi?” Cô trả lời bằng tiếng kinh ngọng nghịu “ Không biết tuổi”. Cô em cũng lắc đầu “Không biết tuổi”. Cha mẹ đi đâu. Tôi hỏi. “Chết rồi”. Các cháu ăn cơm chưa? “Lâu rồi không ăn cơm”, “Củ sắn cũng hết rồi, chờ bộ đội chia gạo thôi”. Loanh quanh một vòng trong bản qua những túp lều đìu hiu vắng chủ. Ở đây chỉ có hai thứ đặc trưng hiện hữu là đói và buồn. Về nhà trưởng bản cũng chẳng có gì vui, ông cho biết dân bây giờ nhiều nhà không còn gì để ăn. Đàn ông lên núi đào củ, đốt ong, co khi nán lại qua đêm để rình con thú. Đàn bà xuống suối mò trai bắt cá. Cái đói cứ điệp khúc vật vờ theo dân tộc Chứt bao thế hệ, kiếp người vẫn chưa chịu buông tha.
Bữa cơm dọn ra có rau má, rau tàu bay luộc thơm thật quyến rũ, tôi nhớ về rau này như một huyền thoại từng “cứu cánh” những người lính, những cô thanh niên xung phong suốt một thời xẻ dọc Trường Sơn đánh Mỹ. Vừa ngồi vào chiếu đột nhiên bọn trẻ xuất hiện ngoài ngõ, trông chúng như những pho tượng đồng hun biết di động. Tôi đã từng bị đói và tôi biết chúng nó muốn gì, chúng đến bởi sự thôi thúc của bản năng tự tồn.
Từ những năm đầu của thập kỷ 60, người đi rừng thỉnh thoảng lại bắt gặp những sinh vật quấn vỏ cây trên mình thoắt ẩn, thoắt hiện trong dáy Giăng Màn. Rồi chiến tranh giặc Mỹ leo thang đánh phá Miền Bắc. Chiến tranh thực sự là nỗi kinh hoàng, đàn ông lên đường ra trận và hình ảnh người rừng đã bị khuất lấp giữa bộn bề khói lửa chiến tranh.
20 năm sau, vào thập kỷ 80, một cơn lốc không số đỏ bộ vào khu vực rừng Hương Lâm, Hương Liên tàn phá khủng khiếp. Hậu quả của chúng chẳng bao giờ khắc phục được. Đó là cơn lốc do con người sinh ra. “cơn sốt Kỳ Nam. Thời kỳ này các nhà dược học Việt Nam chỉ hiểu mơ hồ về trầm hương là một thứ dược liệu quý nhưng chưa biết bào chế và sử dụng ra sao thì ở đây rừng bị xới tung lên. Gần 30km2 rừng tự nhiên, không một gốc trầm hương nào sống sót, cả những cây chết từ lâu cũng bị đào bật gốc tìm trầm “rục”. Kỳ Nam tìm đường ra nước ngoài theo những ông chủ hiểu rõ giá trị về nó. Dân Hồi giáo rất quý dầu trầm. Ngoài những bí quyết dùng trầm để chữa bệnh và tinh chế hàng xa xỉ phẩm cao cấp dùng cho tầng lớp quyền quý, họ xem trầm hương như một sức mạnh về tiềm lực kinh tế. Nếu như ở Việt Nam, những biệt thự sang trọng tôn vinh thân thế của chủ nhân thì người Hồi giáo được đánh giá sự vinh quang bằng số lượng dầu trầm ướp xá khi người thân xuống mộ. Hiện nay khu vực Trung Đông chiến tranh liên miên. Giá dầu trầm có phần chững lại chìm nổi ở thị trường đen trên dưới 20.000 USD/kg. Cơn sốt trầm hương vừa đi qua, trận càn rùa vàng, tê tê (xuyên sơn), kỳ đà như quét nốt những gì quý giá còn lại của rừng. Một con rùa vàng nhỏ như đồng hồ đeo tay, lúc đầu giá 5 triệu đồng, rồi nhảy lên 20 triệu đồng, đột nhiên phóc một cú lên đến 40 triệu đồng Việt Nam tại biên giới Trung Quốc. Rồi gỗ huê, một thứ gỗ không có tên trong danh sách thực vật rừng Việt Nam. Loài gỗ lõi đỏ thắm như máu, giác trắng như lụa, trông hao hao giống cẩm lai. Giá ở Hà Nội thời kỳ cao điểm 46 triệu đồng/1m3. Trong lúc đó cũng tại Hà Nội gỗ trắc có đủ giấy tờ nhập khẩu, (loại đẹp) giá chỉ 22 đến 24 triệu đồng/1m3. Người Trung Quốc có cái quý nhất mà không ai khai thác được đó là “sự bí mật”. Họ mua những thứ hàng đó cho ai? Sao lại mua giá cao đến vậy? giá trị thực chất của nó là bao nhiêu? Ta không bao giờ biết được.
Trở về với người rừng sau những trận càn quét, vét, những sinh vật mặc vỏ cây cũng bị lật ra bìa rừng. Họ được người Kinh cưu mang, dạy cách phát cây gieo hạt. Chủ yếu là họ làm thuê cho người Kinh, cho gì họ nhận lấy, họ không biết đòi hỏi, không biết ít nhiều. Họ khai hoang rồi làm thuê cho người Kinh chính trên đất của họ. Thứ quý nhất mà họ có được qua hơn một thập kỷ lặn lộn và tồn tại là tiếng nói, tiếng nói của người Kinh. Đó là thứ hành trang của nền văn minh họ mang theo vào thế kỷ mới. Phải đến giữa năm thứ tư của thập kỷ 90, thông tin về người Chứt mới được lan truyền về miền xuôi.
Sau khi phát hiện ra phía dãy Giăng Màn tồn tại một tộc người có nguy cơ tuyệt chủng, ban lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đã có dự án quy tụ dân tộc Chứt về định cư tại thung lũng Rào Tre thuộc xã Hương Liên. Dự án phát triển kinh tế dân tộc miền núi được giao cho lực lượng Biên phòng đảm trách. Ngày 30 tháng 6 năm 2001, tổ công tác đặc nhiệm được thành lập, đầu tiên là 6 người. Bây giờ còn 5, do thiếu uý Trần Đình Vũ làm tổ trưởng. Một lực lượng quá mỏng so với lượng công việc nơi này. Anh Vũ và các chiến sỹ kể cho chúng tôi nghe về những ngày đầu cùng chung sống với người Chứt.
Ngày xưa, từ đời này qua đời khác những người của dân tộc lá vàng cứ lang thang như con thú tìm mồi trong núi.Họ ăn những thứ có sẵn trong thiên nhiên, khi những túp lều kết bằng lá đã úa vàng cũng là lúc họ đi tìm nơi ở mới. Rồi thức ăn trong thiên nhiên cũng dần cạn kiệt, con hoẳng, con nai vắng bóng, con chim, con vượn bặt tiếng kêu. Chúng đã cùng với cây rừng theo nhau về chết nơi thành phố.
Như huyền thoại thần nông, các anh dạy cho dân bản cách cày bừa trồng lúa nước. Nói thì có vẻ đơn giản thế nhưng với một dải đồng cao mấp mô chưa từng trồng lúa, một tộc người chưa có khái niệm lúa nước là gì, thật chẳng đơn giản tí nào. Ngày ngày các anh phải ra đồng vừa làm vừa hướng dẫn be bờ làm mương dẫn nước cải tạo mặt bằng, gieo mạ, xuống đồng, vào cấy. Tỉ mỉ từng tí một, hễ rời ra là họ làm sai ngay. Lặn lội với những người đàn ông vụng về thích rượu, những người đàn bà hay cười như nghé, nói líu líu lô lô. Hơn một năm trời cái màu như nắng làm ấm gan ấm ruột đã xuất hiện rực vàng trên dải đất mà từ thượng cổ đến giờ chỉ có màu xanh hoang dại. Năm 2001 với 1,5 ha lúa nước đã thu về cho dân bản 4,5 tấn thóc. Có thóc rồi, cái khó hơn là làm sao quản lý giúp dân giữ được lương thực để ăn dần. Nếu không là chỉ mấy ngày sau là họ đổi rượu uống hết. Họ chưa có khái niệm về bảo quản và dự trữ thức ăn.
Ngày ngày các anh lại ra đồng, năm nay diện tích lúa nước được tăng lên 2,5ha và 1,5 ha lạc. Đêm đêm trung uý Nguyễn Văn Thiện, thiếu uý Ngô Bá Sơn đảm trách hai lớp xoá mù. Cái vui là cả mẹ và con học chung một lớp. Những thiếu niên ngồi xen lẫn với người lớn tuổi ồm oàm xướng những khoá chữ đầu tiên. Cả bản có 108 khẩu, gồm 24 hộ. Điều lạ là chẳng ai biết mình bao nhiêu tuổi, lại nữa họ chỉ có tên chứ không có họ. Gần đây họ được mang họ Hồ như dân tộc Pa Cô. Tuổi của dân bản cũng ngắn như cái tên họ vậy. Trưởng bản hiện nay là ông Hồ Kính già nhất bản cúng chưa được 50 mùa rẫy. Sốt rừng ốm đau, đói khát đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng khi họ chưa kịp đi hết cuộc đời. Theo họ là “do ma”.
Từ ngày đội công tác đặc biệt về đây, cuộc sống hoàn toàn đổi khác. Thiếu uý Lê Văn Sơn và thiếu uý Chu Bá Trợ phụ trách quân y, thường xuyên khám và chữa bệnh, hướng dẫn cho nhân dân ăn chín, uống sôi, mắc màn tránh muỗi, bệnh sốt rét lâu nay hoành hành, bây giờ gần như lùi hẳn. Thấy chiến sỹ nào cũng đen trũi, tôi đùa: Các anh bây giờ thành người Chứt thực rồi. “Gần như vậy”. Họ đã sống ba cùng với dân: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm, thiếu thốn đủ điều, năm anh em đều đã có vợ con, sống xa nhà cả năm trời, doanh trại còn phải mượn tạm, khổ nhất là phương tiện đi lại. Đồn trung tâm cách gần 20km mỗi lần nhận lương thực, thực phẩm, thuốc men anh em đều phải tự túc phương tiện. Thiếu nhiều thứ nhưng các anh có thừa nhiệt tình. Dự án đã đi được chặng đầu gian nan nhất và thành công đang đứng về phía các anh.
Tháng 3 nắng ngơ ngác mắt nai, lưng đồi, sau bản, khoảnh rừng trầm hương các anh vừa trồng năm ngoái đã chập chững biếc xanh. Nghe đâu đây có âm thanh tiếng đàn rất lạ, tôi tìm đến nơi có tiếng đàn. Một người đàn ông quấn khăn sọc đang ngồi kéo đàn, bên anh một người đàn bà nghẹo đầu say sưa hát. Đôi vú trần nhảy thon thót theo nhịp ngân nga. Họ say sưa đến mức không biết có người vào. Chào anh chị - tôi lên tiếng. Hai người niềm nở đón tôi.
Cây đàn trông thật lạ, tôi chưa thấy loại nhạc cụ này bao giờ. Trông nó đen bóng được làm từ ống nứa một đầu rỗng có một dây căng dọc theo ống nứa, đó là loài dây có tên là móc, dây được chuốt nhựa cây rừng rất bóng. Lâu ngày dây móc bị đứt bây giờ anh thay bằng dây cước. Tôi hỏi anh đàn này tên gì? Đàn Pi – anh nói, đàn này có từ lâu lắm. Hồi nhỏ anh nghe Pa đàn và hát anh học theo bây giờ còn nhớ. Nếu không có bộ đội bảo đàn thì ta quên luôn rồi. Lâu rồi đàn treo xó bếp. Anh cầm đàn lên, một đầu tì vào đùi, tay phải cầm một thanh cật nứa liếm nước bọt tra lên dây tay trái bấm lên phím dây. Âm thanh chợt vút lên réo vắt rồi trầm xuống u…u như tiếng sáo diều. Tôi không ngờ cái đàn bé tí mà âm thanh lại tiềm tàng diệu kỳ đến vậy. Anh vừa đàn vừa hát, bất giác, người đàn bà hát theo, họ hát bằng thứ tiếng mà tổ tiên người Chứt dành cho họ, một thứ âm thanh lảnh lót như tiếng suối, tiếng tắc kè, như tiếng chim “bắt cô trói cột”, trộn lẫn vào nhau. Tôi hỏi anh: Anh hbài gì vậy? không trả lời tôi anh đàn và hát tiếng Kinh lơ lớ:
“Một năm có mười hai cái tháng
Một tháng có ba mươi cái ngày
Anh yêu em!
Anh đi đâu, em đi đó
Em đi đâu, anh đi đó
Dù con nai bỏ rừng
Con lợn rừng quay lại
Anh vẫn yêu em”.
Trôi theo tiếng nhạc về thuở hồng hoang, đêm rừng bập bùng ánh lửa, đàn ông chơi đàn, đàn bà nhảy múa, vỏ cây rừng không che nỗi những thân người đỏ rực ánh lửa và ánh đồng. Đúng rồi! dân tộc Chứt cũng có văn hoá riêng, có thể một thời nào đó đã huy hoàng chăng hay ít nhất đã là niềm tự hào của họ và chắc chắn có nhiều điều ta chưa biết đến. Trong cơn vật lộn mưu sinh cái đói, cái chết đã làm cho họ quên đi tất cả. bây giờ cuộc sống mới hồi sinh dẫu có thiếu thốn đủ bề nhưng điều quý nhất là tâm hồn họ được sống lại. Từ góc khuất miền tâm thức tiếng đàn lời ca vật lên bừng thức.
Chúng tôi tạm biệt đội đặc nhiệm, những người đi khai sáng, tạm biệt thung lũng Rào Tre như cái lúm đồng tiền bên má núi và những em bé hồn nhiên ngọn lửa giống nòi. Đừng buồn bản làng ơi, về xuôi tôi vẫn tin một ngày không xa đói nghèo sẽ bị đẩy lùi. Đó là ước vọng của tôi.
Căn nhà của những cơn mưa
March 4, 2008
Anh về đây mùa chưa heo may. Hồn nhiên nắng ùa về thung lũng và ở đó mưa đã làm ướt nắng bởi thung lũng xưa giờ còn nữa đâu em. Thung lũng ngày xưa đầy hoa mua, hoa sim, hoa dã sơn và tổ chim chiền chiện. Tuổi thơ chúng mình theo những mùa bông trang chín, chùm quả ngấy đỏ hừng theo má nắng ngất ngây.
Sao em không về đây cùng anh chiều nay! Thương kỷ niệm ngày thơ giờ chìm trong hồ nước. Không biết người ta ngăn đập, lũ chim có kịp ra ràng ríu cánh bay lên. Chỉ đàn bò cho chiều bình yên và con bê vàng ngẩn ngơ bên hồ nước, mơ màng uống cơn mưa mùa đông năm trước. Anh chợt nhận ra rằng thung lũng bây giờ là căn nhà của những cơn mưa. Và em, có phải em là căn nhà của những cơn mưa? Những cơn mưa mỏi mòn khởi nguồn từ mắt mẹ, những cơn mưa dại khờ hoen má đàn em thơ bé và những đồng đội tử sinh, quên chết trở về.
Chiều đang đi, đàn bò đang về, hoàng hôn choàng dải nắng cuối cùng xuống núi bỏ lại mình anh với đồi trăng đá cuội. Anh nhớ về em.Em là người con gái đầu tiên gọi anh bằng anh. Tiếng gọi ấy lòng anh thao thức mãi, dắt anh đi qua cánh đồng thơ dại đến những ghềnh trăng.
Bây giờ em ở đâu? Đêm nay dòng Ngân Hà chảy qua cánh đồng làng ta. Anh tìm em trên đồng sao, bên bờ sông ngày xưa em tắm, chẳng thấy em đâu. Chỉ thấy ông thần Nông đang ngồi chăn vịt. Anh xuôi dòng sông tìm về hướng Bắc, cái gầu dai ngày xưa hai đứa mình tát nước, bị đứt dây, ai đó quẳng lên trời.
Khuya rồi sương giăng men đồi. Anh gửi lại em chùm hoa dại, chùm hoa ban chiều anh hái!Em có về đồi trăng đá cuội, đó là kỷ vật cuối cùng của mùa hè ngắn ngủi gửi em mùa ấu thơ.
Tấm áo trên mình Tổ Quốc
March 4, 2008
(Trích trường ca)
Hành trình từ chiếc nôi tre
Tạ từ vú mẹ đi về ngây thơ
Gặp con chuồn đá ngủ mơ
Trên sừng trâu gặm dọc bờ cỏ thia
Đời như lát cuội thia lia
Bàn tay tạo hoá vụng về ném chơi
Thoắt chìm, thoắt nổi, chơi vơi
Chợt nghe con sóng thảng lời du ca
Giật mình rơi xuống cỏ hoa
Có ông già, cầm tiếng gà ngồi câu
Tim làng in dấu chân trâu
Ráng chiều phơi những bã trầu mẹ nhai
Vui buồn sau phía lúa khoai
Tháng ba nhặt tiếng thở dài cầm hơi
Lần đầu bé gọi “Anh ơi?”
Cánh diều thơ rụng trắng trời ngây thơ
Theo em qua nhịp dại khờ
Bao mùa hoa dại bơ vơ tiễn người
Con đi thổi tắt nụ cười
Trên đôi môi mẹ lặng lời thương yêu
Con như trốn chạy trong chiều
Nước mắt mẹ cứ đuổi theo suốt đời
Chiến tranh mang một cái nồi
Mưu toan rang hết nụ cười nhân gian
Ta còn một cặp môi than
Và trong ngực quả chuông vàng hai mươi
Quả chuông biết khóc biết cười
Có đêm thầm gọi: “Mẹ ơi” nhớ nhà.
Lưng trâu gửi sáo đồng xa
Ta lên lưng núi là ngà mây trôi
Tai voi, môn thục hết rồi
Rẫy hoang lợn đến trước người tranh ăn
Đói từ bủn rủn bàn chân
Đói mơ con mắt, đói lần lên da
Nhiệm mầu như ẩn trong ta
Uống thêm khúc hát chan hoà, hành quân!
Dốc vềnh đầu đội gót chân
Quơ tay đớp vội ống quần Tô Châu
Mực đêm vẽ gío nát nhàu
Mưa như vỡ ối trên đầu đèo mây
Gập ghềnh dạ khúc thang dây
Gậy binh dép đúc gặm gầy cao nguyên.
Sốt chàm run võng nhớ em
Đàn mưa nhảy nhót trên nền tăng che
Thư em mắt chữ ướt nhoè
Thì thầm ngân vọng tiếng ve đêm nào
Đêm trời lấm tấm phơi sao
Em gieo thơ dại lẫn vào hồn anh
Bao giờ cho hết chiến tranh?
Một đời anh? Lại đời xanh? Một đời…
Mẹ đừng khóc nữa mẹ ơi?
Làm đuôi mắt nét sông ngòi sâu thêm
Con đi có anh có em
Tâm tư lắng xuống nỗi niềm sẻ đôi.
Đạn bom gặm nhấm đất trời
Mưa phùn sinh học trắng rơi sa mù
Rừng già mê ngủ ngàn thu
Giật mình tỉnh giấc bụi mù xe tuôn
Mùa khô uống suối kiệt nguồn
Bi đông bắt chước tiếng chuông nhà thờ
Dây rừng còn giữ mùa mưa
Cho vơi cơn khát đỉnh mùa nắng điên
Phù sa người chảy triền miên
Hoá thành hồng ngọc cuối miền thẳm sâu
Lưỡi cày lầm lũi theo trâu
Cha đi thủng thẳng loang mầu nắng mai
Sau cha thủ thỉ lúa khoai
Sơn ca rủng rỉnh nhặt vài hạt chơi
Tiếng chim xuyên thủng khí trời
Tan ra và rổn rảng rơi xuống đồng
Cha giờ về với thần Nông
Dấu chân gửi lại trên đồng sơn ca
Con về nối dấu chân cha
Tổ tiên từ bụi tre ngà lên măng
Lưng liềm, lưng lúa, lưng trăng
Làm con thương nhớ lưng còng mẹ xưa
Một đời lắc thắc mắt mưa
Một đời cặm cụi làm bùa hộ con
Trong con nguyên vẹn lối mòn
Nắng chiều xô bóng lom khom mẹ chờ
Lời nào bốc cháy thành thơ
Thương đau, khát vọng, ước mơ hỡi người.
Tháng 7/2002
Vó bè
March 4, 2008
Vó bè chăng đầy ngọn lúa
Nắng lên lấp lánh lạ thường
Lũ nhện suốt đêm canh vó
Mai này cất được chùm sương.
Ông già và đêm chung vó cất sông
Niềm vui của ông nỗi buồn của cá
Đêm mỏng, sông gầy, phận người, kiếp cá
Mọi niềm vui có gốc gác từ buồn.
Vó bè tôi cất những hoàng hôn
Giọt mưa mắt em rụng chiều xa xứ
Túi ăn mày xanh xao ngày cơ nhỡ
Lưới trời chùng cất lọt kiếp phù sinh.
Trại sáng tác
Vũng Tàu tháng 9/2002
Phía giường tầng
March 4, 2008
Tầng một, tầng hai, tầng ba
Ngỡ như cổ tích là nhà sinh viên
Tầng ba cô bé ngồi thiền
Sử kinh gieo, lúm đồng tiền ưu tư
Tầng hai nhỏ vừa nhận thư
Bâng khuâng trôi giữa ngôn từ lọ lem
Bần thần, tầng một, mình em
Mắt vời vợi ngóng về miền lúa khoai
Tim anh đập một thành hai
Lửa thiên thai, ngực đời trai bập bùng
Mắt em nâng cặp cánh cung
Tên mi chuốt nhọn ngập ngừng ngắm tôi
Tôi thì chưa bắn đã rơi
Tình yêu ngã gục trước lời nguyên sơ
Em nghèo như một câu thơ
Lấy chi nuôi nổi ước mơ hỡi người
Tình yêu mang dáng nụ cười
Làm sao giữ mãi trên môi bây giờ?
Mùa hồi xuân
March 4, 2008
Ta giờ mờ nhạt trong em
Em giờ cũng hết êm đềm trong ta
Vợ chồng chung bản tình ca
Hát đi, hát lại, thế mà hết hay
Em ơi! Bao mùa đắm say
Đã không cứu nỗi một ngày tan yêu
Ly tan, bão sớm, dòng chiều
Con chúng mình hoá cánh diều đứt dây
Anh manh áo cũ lâu ngày…
Chưa thay, em đã như thay lâu rồi
Đàn ông chỉ có một thời
Đàn bà có những hai đời xuân xanh
Râu tôm ruột bí nấu canh
Ta chờ nhau mãi chẳng thành ca dao.


