Hai nửa âm dương

October 17, 2008

HAI NỬA ÂM DƯƠNG

  Tôi ngồi trên bờ nam sông Thạch Hãn, buổi sáng quán cà phê ngoài trời lác đác người.

Mùa xuân, dòng sông Thạch Hãn không đủ nước để trôi, vài cụm lục bình dừng lại cạnh bờ lau phơ phất. Bên kia bờ, những doi cát trồi lên mấp mô như những nấm mồ chôn vội. Bãi bồi, những vòm khoai lom khom, xanh màu quân phục Tô Châu, tựa hồ cả đoàn quân vừa nhô lên khỏi chiến hào, vài vạt cải ngồng rực rực lên như đám nắng cô đặc mà mùa hè nào đó đã tàn nhẫn bỏ quên trên dãi đồng buồn bã. Nơi đây là vùng đất linh thiêng, xung quanh tôi, hàng chục triệu vong linh vật vờ chưa tìm được đường về quê hương. Xác của họ còn vùi đâu đó trong Thành Cổ, hai bên bờ hay dưới đáy sông Thạch Hãn. Cảnh tha hương đều đau buồn do hai phía âm dương. Mưa! Ngày xuân thật là xấu xí, những đùm cây lòng thòng chảy xuống như rễ lục bình lầm lũi rê ngang nền trời. Tôi đang miên man chợt một bàn tay lạnh lẽo vuốt vào gáy, tôi dật mình quay lại:

  • - Mua dùm cái vé số đi.

   Một gã gầy nhom, râu tóc phủ gần kín khuôn mặt gầy guộc, đôi mắt như hai hòn than đang cháy phừng phừng.

  • - Ông là nhà văn à? Gã hỏi, viết mần chi, người chết không thích văn thơ, không thích hoa hoắt, ba cái đồ yêu. Họ muốn về quê cha đất tổ ông ạ.

   Nói rồi gã bỏ đi tôi nhìn theo cái mũ tai bèo xấp xải sau vai thấy ngờ ngợ, lòng hoang mang bất ổn. Nhìn giọt cà phê tím bầm, mệt mỏi ứa ra, rơi xuống như từ một vết thương không được băng bó. Trong âm u quá khứ chợt hiện về.

   Ngày ấy cũng trên dòng sông này, đêm đêm bộ đội từ phía bờ Bắc vượt sông vào bờ Nam đánh giặc, những bộ quân phục vo tròn nhét vào túi phao, họ vượt sông trong tư thế trần truồng. Tháng bảy âm, những cơn lũ từ thượng nguồn đổ về, dòng Thạch Hãn trông càng hãi hùng hơn. Pháo giặc từ cao điểm bắn xuống, từ phía biển nã vào, hằng đêm dòng sông đầm đìa máu. Quân số vơi đi, tân binh mới lại bổ sung vào Thành Cổ Quảng Trị. Khoảng cách nhận lệnh cho đến lúc hành quân thông thường khoảng vài tiếng đồng hồ nhưng thời gian đó dài đằng đẵng, sự giằng xé xẩy ra trong lòng những người lính trẻ, họ nhìn nhau, xác định quyết tử cho Tổ quốc, nhưng bên sự cứng rắn ấy là nỗi nhớ thương mẹ. Mình chết mẹ có chịu đựng nỗi không! Thế là nước mắt trào ra. Dòng sông Thạch Hãn đã từng chứng kiến những người lính trước lúc vượt sông, họ quay mặt về phía Bắc, chắp tay trong đêm tối vái ba vái rồi cúi đầu quay lại. Lần vượt sông năm ấy có anh Hoành trung đoàn 18 sư 325 bạn đồng hương với tôi, khi rơi ra đến giữa dòng thì đội hình trúng pháo kích. Hoành lọt được sang bờ bên kia, đợi mãi chỉ thấy còn mấy đứa ngắc ngoải bơi vào. Ban chiều nhận được lệnh, đứa nào cũng lo đi lên trạm xá kiếm vở peni ci lin, rồi hý hoáy viết tên mình và quê quán vào đó, nhét vào be đậy nút lại, cho vào túi tử sỹ, nếu hy sinh sau này còn biết mà nhận ra. Bây giờ chúng nó chết trôi sông, có quan tài mang theo mà chẳng được nằm trong quan tài, quá tội mày ơi. Tao vào chốt trong Thành Cổ lúc đó mới biết rằng chết còn gọi sự sống nơi này bằng cố nội. Suốt ngày chúng nó trút xuống Thành Cổ hết bom, đến pháo, ngừng pháo là chúng nó ùa lên, đẩy được chúng ra thì pháo lại dập tiếp, rồi chất độc, hơi cay đủ cả, suốt ngày tai ù đặc trong tiếng nổ nhức óc và khói súng ngạt thở, có lúc không có thời gian đi đái là đái luôn vào quần.

    Đánh nhau mãi rồi cũng quen, đôi khi còn hăng máu có cảm giác hứng thú, khổ là khổ sinh hoạt. Đêm ngừng đánh nhau mò ra hố bom múc nước đổ vào túi gạo đồ của mỹ buộc lại, một lúc là thành cơm, còn nước thì vẫn cứ nước đó múc vào bi đông bỏ vào hai viên khử trùng của Trung Quốc là xong, nước đây tanh bợn ruột, lúc đầu tao không biết vì sao tanh nhưng khi nước rút tao thấy xương người và chuột chết dưới đáy hố bom, ớn sườn luôn! Gần ba tháng chốt ở Thành Cổ không tắm, không thay quần áo. Tởm nhất là những ngày mưa, nước theo hầm râu tôm ùa vào, những túi cứt mình vứt ra ngoài, theo nước lềnh phềnh lao theo xoay xung quanh người trông phát khiếp. Tao sót được về đây là phúc tổ ba mươi đời. Hoành ngậm ngùi; khi trung đoàn 18 rút ra, trung đoàn 95 vào thay thế, lúc tao còn mấy trăm thương binh nằm ở hầm tỉnh trưởng không biết có kịp chuyển ra không!…

  Rời quán cà phê chúng tôi vào Thành Cổ. Dấu tích chiến tranh biến đâu mất chỉ còn lại những bãi cỏ, những lối đi theo kiểu công viên. Một tượng đài chưa ra dáng một tượng đài. Tôi thắp hương mà lòng ngậm ngùi khi thấy cái mộ chung phía trong trống rỗng trông quá bẽ bàng. Tự nhiên tôi khao khát nơi đây có một tượng đài hình tháp trên cái nền cao, bốn mặt ốp đá hoa cương màu đỏ, trên đó khắc tên quê quán những liệt sỹ đã hy sinh cho mãnh đất này. Mỗi mặt tháp quay về mỗi hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Những người ở hướng Bắc cho khắc tên ở trường tháp phía Bắc để họ nhìn về quê mẹ, những đứa con của xứ Nam, xứ Tây, xứ Đông được quay mặt hướng về quê hương mình. Bốn phía chân tháp đặt bốn lư hương trên cái bệ cao hơn nền tháp. Phía dưới là tam cấp chạy quanh bốn phía, dưới cùng một cung tròn trồng hoa. Được vậy, người hy sinh chắc cũng đỡ tủi thân và người đến thăm cũng cảm thấy được an ủi và cảm nhận được sự thiêng liêng và tôn nghiêm nơi mãnh đất lịch sử này.

    Bước vào nhà bảo tàng, tôi thầm cảm ơn Phạm Công Tính đã ghi lại được hình ảnh một Thành Cổ tang thương đổ nát, một cảnh tàn khốc do giặc mỹ gây nên. Nếu không có bức ảnh này chắc chẳng ai nhận biết sự huỷ diệt của bom đạn Mỹ ở mảnh đất này. Chúng tôi theo cô hướng dẫn viên lên tầng hai nhà bảo tàng, nơi đây trưng bày nhiều di vật chiến tranh. Giọng cô thuyết minh buồn nẫu, làm tôi rưng rưng. Khi cái roi trên tay cô gái chỉ vào những khúc xương người làm tôi ớn lạnh. Hình như hơi lạnh từ những cốt xương ấy trườn qua, linh giác làm tôi căm phẫn. Chẳng lẽ 72 nghĩa trang và hơn 59 nghìn liệt sỹ , hàng nghìn người mất xác ở mảnh đất Quảng Trị này chưa đủ đau xót hay sao mà còn đem xương người ra trưng bày. Liệu một người mẹ thấy xương con mình đem phơi như vậy mà chịu nổi không! Họ đã hiến mình cho tổ quốc, chết không toàn thây, còn nắm xương bị bớt đi  mấy khúc. Những đốt xương ấy có xuất xứ từ một lần âm dương nhập hồn. Cô hướng dẫn viên kể cho tôi nghe về chuyện lên đồng của một người đàn bà bán bún. Đó là ngày 18 tháng 4 năm 2005. Trước ngày đoàn cựu chiến binh hành quân xuyên việt viếng thăm Thành Cổ Quảng Trị. Một buổi sớm mù sương bà Trần Thị Cam đi bán bún, khi qua nhà anh Nguyễn Văn Bang bà ngã lăn ra và bật dậy hô: xung phong, đi đều bước, sẵn sàng chiến đấu…Bà nói đặc sệt giọng Bắc rồi chỉ tay vào vườn anh Bang bảo: ở đây ô uế lắm, sắp tới có đồng đội chúng tôi vào đây, cho chúng tôi lên để đi dự lễ cùng đồng đội. Nói xong bà Cam ngất xỉu. Anh Bang đi nhờ thầy cúng và tiến hành khai quật. Trọn một tuần, đúng ngày 26 tháng 4 năm 2005 đoàn cựu chiến binh đến Thành Cổ Quảng Trị thì 9 hài cốt liệt sỹ cùng nhiều di vật: súng, ba lô, mũ, dép cao su…Được phát hiện. Trong số di vật được khai quật có chiếc bi đông nằm cạnh hài cốt, khắc hai chữ Văn Hạnh, quê Quảng Bình.

     Mỗi lần đến vùng đất Quảng Trị tôi như lạc vào một cõi âm u. Quá khứ như đang song hành với hiện tại, người dương gian đang sống với người đã chết, chiến tranh đã tắt thở hơn ba chục năm rồi mà vẫn còn sống vật vờ trong ký ức bao người. Mảnh đất Quảng Trị, mảnh đất của những người anh hùng và sự khổ đau. Nơi đây mênh mông nghĩa trang, san sát những nấm mồ. Đôi khi buồn quá tôi tự an ủi mình, đó là thành phố của những người đã chết và thầm mong cõi u minh ấy họ có một cuộc đời thanh thản hơn chốn dương gian đầy bất trắc này. Tôi từng gặp những người mẹ, người chị, người anh từ chiến tranh đi ra, trong lòng họ, còn có một nghĩa trang, một nghĩa trang không có khói hương, chỉ có nước mắt âm thầm chảy vô thức trong những đêm mê. Đôi khi có tiếng thét cuối cùng của đứa con trước khi bỏ mẹ, một đôi chân của mình được chôn cất sau trạm phẩu thuật tiền phương, một người chồng bị giặc chôn sống ở đầu làng. Mùa đông năm ngoái tôi lên Cam Chánh, Cam Nghĩa vùng chất độc da cam. Vừa đến đầu làng, tôi gặp một thằng bé đứng giữa con đường đất Bazan ướt nhẹp. Nó nhìn tôi cười, cái đầu to lắc lư trên cổ khẳng khiu. Người bạn cùng đi với tôi nói:

  • - Chụp một kiểu ảnh, tôi bảo thôi.

   Thực lòng tôi không đủ can đảm để chụp.

  Tôi theo hai người ở phòng chính sách đi một vòng quanh làng, gặp những cảnh đời quá đau thương. Có những gia đình gần ba mươi năm nuôi cả đoàn con giờ chết hết chẳng còn đứa nào, chỉ còn lại cái sáo ngày trước cho chúng nó vị tập bây giờ bơ vơ như kỷ vật của linh hồn, có đứa bé gái con chị N đẹp như thiên thần mù cả hai mắt, gia đình bị bán hết những gì có thể, vay mượn, cầm cố đưa con đi chữa hết Hà Nội, Sài Gòn nhưng đôi mắt của con vẫn tối tăm trong túp nhà khánh kiệt, chị T ở Cam Chánh - Mấy chục rồi không ai thấy chị cười, nỗi lo âu sợ hãi thường trực trên khuôn mặt chị. Chị ơi? Sao chị buồn vậy? tôi hỏi, rất lâu sau chị nghẹn ngào. Tui có bốn đứa con hai đứa chết rồi, đều chết đúng 11 tuổi. Thằng thứ ba năm nay chín tuổi. Thấy chị đi. Tôi hiểu rằng chị sợ số phận đứa con mình về hai năm tới. Ơn trời mong sao cho đứa thứ ba con chị qua cái ngưỡng oan nghiệt này. Lúc mới vào sân, tôi thấy có một bé gái khoẻ mạnh chừng 5 tuổi chạy vào nhà trốn sau bức phên. Tôi nói với cô gái phòng chính sách: Đứa bé này khoẻ mạnh chắc rồi sẽ ổn.

    Cô bảo: Nhà này bé nào lúc đầu sinh ra cúng khoẻ mạnh, lành lặn như thế anh ạ. Nhưng lớn lên nó mụ mị không biết gì, rồi teo cơ dần và chết. Tội lắm anh ơi. Thấy nhà cửa tềnh toàng tôi buột miệng hỏi chị:

- Chị ơi! Chị có nguyện vọng gì không?

- Nguyện vọng chi mô nờ, con tui chết rồi, tui nhớ con tui trời ơi?

Chị nấc lên. Tôi rời nhà chị như một kẻ trốn chạy.

    Những cảnh đời như thế luôn ám ảnh tôi, những thân phận buồn đau mà nụ cười bỏ họ ra đi chẳng bao giờ về lại. Về thôn An Thái, xã Hải Thượng huyện Hải Lăng, tôi gặp hai người mẹ anh hùng hoạt động suốt hai thời kỳ đánh Pháp và đánh Mỹ.Hai mẹ là chị em dâu sống trong một nhà. Mẹ Đào Thị Vui, sinh năm 1924 và mẹ Bùi Thị Nga - 73 tuổi, chồng mẹ Vui bị giặc Pháp bắt và chôn sống tại bốt Lồ Cồ.  Ngày đó mẹ mới 24 tuổi, thù giặc thương chồng vừa hoạt động Cách mạng và ở vậy nuôi con. Anh Thịnh người con trai duy nhất của mẹ theo cách mạng hoạt động bí mật, bị giặc bắt đày ra Côn Đảo. Ra tù, anh tiếp tục hoạt động và bị giặc bắn chết trong buổi chiều chạng vạng trên cánh đồng trũng trước làng. Gia đình ông Lê Lầm có ba người con trai. Hai người bị giặc pháp chôn sống, một người là chồng mẹ Vui. Anh Lê Thành con trai thứ ba của ông Lâm lấy chị Bùi Thị Nga sinh được một đứa con trai duy nhất là Lê Thăng - 14 tuổi, anh Lê Thăng theo cha mẹ hoạt động bí mật trong vùng địch, mẹ đào hầm bí mật, nuôi cán bộ nằm vùng. Bị bọn mật thám chỉ điểm, cả gia đình bị bắt giam. Ra tù, tổ chức bố trí cho anh Lê Thành tập kết, còn lại mẹ và Lê Thăng ở lại hoạt động. Đó là thời kỳ mỹ nguỵ đàn áp đẫm máu. Bây giờ kể lại một thời hoạt động, giọng mẹ vẫn đầy khí phách, cái ngày nớ cực lắm con ơi, vào tù nó nhốt riêng một buồng tối om, hắn đập dã man khỏi nói luôn, nhiều khi nghĩ em không sống nổi. Rứa mà mẹ là mẹ xác định rồi, hắn hỏi chị Miềng cứ nói là tui không biết chi hết, các ông giết thì giết đi, tui không biết thì lấy chi khai. Thấy Miềng nói cứng với lại không có tang chứng chi hắn phải thả về. Nhà mệ có ba hầm bí mật, nuôi cán bộ, hai cái ở ngoài vườn, một cái trong đụn rơm. Mệ nhớ có một lần nguy hiểm nhất là có người Miềng đầu thú, hắn khai trong vườn mệ có hầm bí mật. Rứa là lính kéo về lùng sục tìm mãi không ra. Bọn chúng đánh đập tra khảo sáng đến trưa. Mệ với chị Vui nháy nhau là không khai. Tức quá bọn chúng lôi kìm ra ghè đòi nhổ cả hàm răng. Lúc đó cái hầm trong đụn rơm có ông Lương bí thư Thị uỷ Quảng Hà nằm trong nớ. Hắn thấy chị Vui yếu vía hơn, một thằng cầm kìm bẻ răng chị Vui, chị đau quá nói: “Để tui khai. Mệ nói rứa là rồi đó con nờ. Một thằng nói khai đi, chánh nghĩa quốc gia sẽ khoan hồng. Sau này ông Lương nói tôi ngồi trong hầm nghe rõ mồn một, chú biết không! đụn rơm là ở ngay sát sân luôn, cách nhau một bước chân chứ mấy. Lúc nớ không biết tại răng mà mẹ không sợ chỉ lo hắn giết ông Lương. Thằng cầm kìm dục khai mau.Chị Vui mới nói: “Các ông làm tui đau quá, tui sợ tui phải nói rứa, chớ có chi mô mà khai. Thế là nó bắt cả nhà về giam ở đồn”.

    Về Quảng Trị tôi có hai người bạn thân, uống rượu như mưa, tâm hồn như nắng, Cao Hạnh đa tình, Văn Bốn đa mang. Hai người đều viết văn, làm thơ. Mỗi lần vào Quảng Trị chúng tôi lại cùng nhau đi tìm quá khứ. Quá khứ oai hùng thường ẩn dấu trong những con người vĩ đại. Trong mắt tôi, họ là những bản trường ca lịch sử, họ đã trang trải đời mình cho Tổ quốc quê hương. Trong rất nhiều người tôi gặp, tôi mê nhất hai người. Một là bác Lê Văn Hoan, hai là anh Nguyễn Minh Kỳ. Tôi không thể một lúc kể hết cả cuộc đời hoạt động Cách mạng của họ. Đó là cuộc hành trình bi tráng đằng đẵng 25 năm không thấy mặt trời bác Hoan. Ban ngày bác nằm hầm bí mật, tối rời hầm hoạt động âm thầm trong lòng địch. Bác Hoan sinh ngày 04/02/1932 ở xã Hải Thượng huyện Hải Đăng, tỉnh Quảng Trị. Mười ba tuổi tham gia cướp chính quyền và từ đó chiến tranh liên miên cuốn bác theo hơn nửa đời người. Mưu lược, thông minh, hiền lành, dũng cảm, với hàng trăm chiến công đánh Pháp, đánh Mỹ. Tôi chỉ kể một chi tiết nhỏ thôi. Năm 1969 Mỹ nguỵ phản kích chiếm lại toàn bộ đồng bằng. Lực lượng hoạt động nằm vùng thất tán, mất liên lạc. Bác được phải về mốc nối  cơ sở và tìm lại  tổ của đồng chí Trần Thị Tâm. Hai năm mất liên lạc, cuối cùng bác cũng tìm được nơi trú ẩn của  cô Tâm.

Đêm đó,người cơ sở dẫn bác đến một căn hầm sát đường quân cảng của Mỹ ở cảng Mỹ Thuỷ, người Mỹ gọi nơi này là khu vực bất khả xâm phạm . Căn hầm nằm dưới một ngôi mộ giả. Gặp Bác, Tâm mừng khôn tả. Hồi đó bác còn là một thanh niên trai trẻ chưa vợ. Đêm dó , bàn công việc,giao nhiệm vụ xong. Hai người nằm ngủ chung một căn hầm,căn hầm quá chật chội ép hai người nằm sát bên nhau. ngủ nha! Bác nói và quay lưng lại phía Tâm. Đó là lần đầu tiên bác ngủ chung với người con gái. Bác nằm im bất động quyết tâm ngủ nhưng không tài nào ngủ được. Tiếng thở dài của tâm mỗi lúclại dài . Hơi ấm từ tấm lưng dậy thì lan qua người, làm cho thân thể trẻ trai nóng nực. Tai ù đặc, không còn nghe thấy gì, không còn biết gì, không biết  chiến tranh, không biết Mỹ nguỵ, chỉ cảm thấy mơ hồ cái cùi tay, lâu lâu lại dụi nhẹ vào lườn anh. Anh nằm lặng hồi lâu , chợt tiếng nấc nở làm anh bừng tỉnh. Anh quay người lại, sao em lại khóc?

Tâm nức nở.

- Khổ quá anh ơi!

- Ráng lên em, chịu khổ thời gian nữa thôi; chiến tranh rồi sẽ kết thúc.

- Không phải thế! Anh chẳng hiểu gì cả.

      Nói rồi Tâm cầm tay anh quàng qua ngực và bảo: Ngủ đi. Anh cảm thấy tiếng tim Tâm đập nẩy qua tay mình mỗi lúc một nhanh. Trong mê man nghe cặp mông cựa quậy, chạm vào bụng dưới mình như đang tìm kiếm vật gì mà đôi khi loài người bỏ quên vì một điều gì đó…

  Im lặng hồi lâu rồi bác nghẹn ngào:

 Cô ấy bị giặc bắt và tra tấn cho đến chết sau đó ít lâu.

Bên ngoài, mưa vẫn âm thầm trôi. Nơi chúng tôi ngồi lãng đãng hoàng hôn,màu hoàng hôn như nổi niềm quá khứ đau buồn chưa quá xa xăm.  

Hai nửa âm dương

October 17, 2008

 

HAI NỬA ÂM DƯƠNG

  Tôi ngồi trên bờ nam sông Thạch Hãn, buổi sáng quán cà phê ngoài trời lác đác người.

Mùa xuân, dòng sông Thạch Hãn không đủ nước để trôi, vài cụm lục bình dừng lại cạnh bờ lau phơ phất. Bên kia bờ, những doi cát trồi lên mấp mô như những nấm mồ chôn vội. Bãi bồi, những vòm khoai lom khom, xanh màu quân phục Tô Châu, tựa hồ cả đoàn quân vừa nhô lên khỏi chiến hào, vài vạt cải ngồng rực rực lên như đám nắng cô đặc mà mùa hè nào đó đã tàn nhẫn bỏ quên trên dãi đồng buồn bã. Nơi đây là vùng đất linh thiêng, xung quanh tôi, hàng chục triệu vong linh vật vờ chưa tìm được đường về quê hương. Xác của họ còn vùi đâu đó trong Thành Cổ, hai bên bờ hay dưới đáy sông Thạch Hãn. Cảnh tha hương đều đau buồn do hai phía âm dương. Mưa! Ngày xuân thật là xấu xí, những đùm cây lòng thòng chảy xuống như rễ lục bình lầm lũi rê ngang nền trời. Tôi đang miên man chợt một bàn tay lạnh lẽo vuốt vào gáy, tôi dật mình quay lại:

  • - Mua dùm cái vé số đi.

   Một gã gầy nhom, râu tóc phủ gần kín khuôn mặt gầy guộc, đôi mắt như hai hòn than đang cháy phừng phừng.

  • - Ông là nhà văn à? Gã hỏi, viết mần chi, người chết không thích văn thơ, không thích hoa hoắt, ba cái đồ yêu. Họ muốn về quê cha đất tổ ông ạ.

   Nói rồi gã bỏ đi tôi nhìn theo cái mũ tai bèo xấp xải sau vai thấy ngờ ngợ, lòng hoang mang bất ổn. Nhìn giọt cà phê tím bầm, mệt mỏi ứa ra, rơi xuống như từ một vết thương không được băng bó. Trong âm u quá khứ chợt hiện về.

   Ngày ấy cũng trên dòng sông này, đêm đêm bộ đội từ phía bờ Bắc vượt sông vào bờ Nam đánh giặc, những bộ quân phục vo tròn nhét vào túi phao, họ vượt sông trong tư thế trần truồng. Tháng bảy âm, những cơn lũ từ thượng nguồn đổ về, dòng Thạch Hãn trông càng hãi hùng hơn. Pháo giặc từ cao điểm bắn xuống, từ phía biển nã vào, hằng đêm dòng sông đầm đìa máu. Quân số vơi đi, tân binh mới lại bổ sung vào Thành Cổ Quảng Trị. Khoảng cách nhận lệnh cho đến lúc hành quân thông thường khoảng vài tiếng đồng hồ nhưng thời gian đó dài đằng đẵng, sự giằng xé xẩy ra trong lòng những người lính trẻ, họ nhìn nhau, xác định quyết tử cho Tổ quốc, nhưng bên sự cứng rắn ấy là nỗi nhớ thương mẹ. Mình chết mẹ có chịu đựng nỗi không! Thế là nước mắt trào ra. Dòng sông Thạch Hãn đã từng chứng kiến những người lính trước lúc vượt sông, họ quay mặt về phía Bắc, chắp tay trong đêm tối vái ba vái rồi cúi đầu quay lại. Lần vượt sông năm ấy có anh Hoành trung đoàn 18 sư 325 bạn đồng hương với tôi, khi rơi ra đến giữa dòng thì đội hình trúng pháo kích. Hoành lọt được sang bờ bên kia, đợi mãi chỉ thấy còn mấy đứa ngắc ngoải bơi vào. Ban chiều nhận được lệnh, đứa nào cũng lo đi lên trạm xá kiếm vở peni ci lin, rồi hý hoáy viết tên mình và quê quán vào đó, nhét vào be đậy nút lại, cho vào túi tử sỹ, nếu hy sinh sau này còn biết mà nhận ra. Bây giờ chúng nó chết trôi sông, có quan tài mang theo mà chẳng được nằm trong quan tài, quá tội mày ơi. Tao vào chốt trong Thành Cổ lúc đó mới biết rằng chết còn gọi sự sống nơi này bằng cố nội. Suốt ngày chúng nó trút xuống Thành Cổ hết bom, đến pháo, ngừng pháo là chúng nó ùa lên, đẩy được chúng ra thì pháo lại dập tiếp, rồi chất độc, hơi cay đủ cả, suốt ngày tai ù đặc trong tiếng nổ nhức óc và khói súng ngạt thở, có lúc không có thời gian đi đái là đái luôn vào quần.

    Đánh nhau mãi rồi cũng quen, đôi khi còn hăng máu có cảm giác hứng thú, khổ là khổ sinh hoạt. Đêm ngừng đánh nhau mò ra hố bom múc nước đổ vào túi gạo đồ của mỹ buộc lại, một lúc là thành cơm, còn nước thì vẫn cứ nước đó múc vào bi đông bỏ vào hai viên khử trùng của Trung Quốc là xong, nước đây tanh bợn ruột, lúc đầu tao không biết vì sao tanh nhưng khi nước rút tao thấy xương người và chuột chết dưới đáy hố bom, ớn sườn luôn! Gần ba tháng chốt ở Thành Cổ không tắm, không thay quần áo. Tởm nhất là những ngày mưa, nước theo hầm râu tôm ùa vào, những túi cứt mình vứt ra ngoài, theo nước lềnh phềnh lao theo xoay xung quanh người trông phát khiếp. Tao sót được về đây là phúc tổ ba mươi đời. Hoành ngậm ngùi; khi trung đoàn 18 rút ra, trung đoàn 95 vào thay thế, lúc tao còn mấy trăm thương binh nằm ở hầm tỉnh trưởng không biết có kịp chuyển ra không!…

  Rời quán cà phê chúng tôi vào Thành Cổ. Dấu tích chiến tranh biến đâu mất chỉ còn lại những bãi cỏ, những lối đi theo kiểu công viên. Một tượng đài chưa ra dáng một tượng đài. Tôi thắp hương mà lòng ngậm ngùi khi thấy cái mộ chung phía trong trống rỗng trông quá bẽ bàng. Tự nhiên tôi khao khát nơi đây có một tượng đài hình tháp trên cái nền cao, bốn mặt ốp đá hoa cương màu đỏ, trên đó khắc tên quê quán những liệt sỹ đã hy sinh cho mãnh đất này. Mỗi mặt tháp quay về mỗi hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Những người ở hướng Bắc cho khắc tên ở trường tháp phía Bắc để họ nhìn về quê mẹ, những đứa con của xứ Nam, xứ Tây, xứ Đông được quay mặt hướng về quê hương mình. Bốn phía chân tháp đặt bốn lư hương trên cái bệ cao hơn nền tháp. Phía dưới là tam cấp chạy quanh bốn phía, dưới cùng một cung tròn trồng hoa. Được vậy, người hy sinh chắc cũng đỡ tủi thân và người đến thăm cũng cảm thấy được an ủi và cảm nhận được sự thiêng liêng và tôn nghiêm nơi mãnh đất lịch sử này.

    Bước vào nhà bảo tàng, tôi thầm cảm ơn Phạm Công Tính đã ghi lại được hình ảnh một Thành Cổ tang thương đổ nát, một cảnh tàn khốc do giặc mỹ gây nên. Nếu không có bức ảnh này chắc chẳng ai nhận biết sự huỷ diệt của bom đạn Mỹ ở mảnh đất này. Chúng tôi theo cô hướng dẫn viên lên tầng hai nhà bảo tàng, nơi đây trưng bày nhiều di vật chiến tranh. Giọng cô thuyết minh buồn nẫu, làm tôi rưng rưng. Khi cái roi trên tay cô gái chỉ vào những khúc xương người làm tôi ớn lạnh. Hình như hơi lạnh từ những cốt xương ấy trườn qua, linh giác làm tôi căm phẫn. Chẳng lẽ 72 nghĩa trang và hơn 59 nghìn liệt sỹ , hàng nghìn người mất xác ở mảnh đất Quảng Trị này chưa đủ đau xót hay sao mà còn đem xương người ra trưng bày. Liệu một người mẹ thấy xương con mình đem phơi như vậy mà chịu nổi không! Họ đã hiến mình cho tổ quốc, chết không toàn thây, còn nắm xương bị bớt đi  mấy khúc. Những đốt xương ấy có xuất xứ từ một lần âm dương nhập hồn. Cô hướng dẫn viên kể cho tôi nghe về chuyện lên đồng của một người đàn bà bán bún. Đó là ngày 18 tháng 4 năm 2005. Trước ngày đoàn cựu chiến binh hành quân xuyên việt viếng thăm Thành Cổ Quảng Trị. Một buổi sớm mù sương bà Trần Thị Cam đi bán bún, khi qua nhà anh Nguyễn Văn Bang bà ngã lăn ra và bật dậy hô: xung phong, đi đều bước, sẵn sàng chiến đấu…Bà nói đặc sệt giọng Bắc rồi chỉ tay vào vườn anh Bang bảo: ở đây ô uế lắm, sắp tới có đồng đội chúng tôi vào đây, cho chúng tôi lên để đi dự lễ cùng đồng đội. Nói xong bà Cam ngất xỉu. Anh Bang đi nhờ thầy cúng và tiến hành khai quật. Trọn một tuần, đúng ngày 26 tháng 4 năm 2005 đoàn cựu chiến binh đến Thành Cổ Quảng Trị thì 9 hài cốt liệt sỹ cùng nhiều di vật: súng, ba lô, mũ, dép cao su…Được phát hiện. Trong số di vật được khai quật có chiếc bi đông nằm cạnh hài cốt, khắc hai chữ Văn Hạnh, quê Quảng Bình.

     Mỗi lần đến vùng đất Quảng Trị tôi như lạc vào một cõi âm u. Quá khứ như đang song hành với hiện tại, người dương gian đang sống với người đã chết, chiến tranh đã tắt thở hơn ba chục năm rồi mà vẫn còn sống vật vờ trong ký ức bao người. Mảnh đất Quảng Trị, mảnh đất của những người anh hùng và sự khổ đau. Nơi đây mênh mông nghĩa trang, san sát những nấm mồ. Đôi khi buồn quá tôi tự an ủi mình, đó là thành phố của những người đã chết và thầm mong cõi u minh ấy họ có một cuộc đời thanh thản hơn chốn dương gian đầy bất trắc này. Tôi từng gặp những người mẹ, người chị, người anh từ chiến tranh đi ra, trong lòng họ, còn có một nghĩa trang, một nghĩa trang không có khói hương, chỉ có nước mắt âm thầm chảy vô thức trong những đêm mê. Đôi khi có tiếng thét cuối cùng của đứa con trước khi bỏ mẹ, một đôi chân của mình được chôn cất sau trạm phẩu thuật tiền phương, một người chồng bị giặc chôn sống ở đầu làng. Mùa đông năm ngoái tôi lên Cam Chánh, Cam Nghĩa vùng chất độc da cam. Vừa đến đầu làng, tôi gặp một thằng bé đứng giữa con đường đất Bazan ướt nhẹp. Nó nhìn tôi cười, cái đầu to lắc lư trên cổ khẳng khiu. Người bạn cùng đi với tôi nói:

  • - Chụp một kiểu ảnh, tôi bảo thôi.

   Thực lòng tôi không đủ can đảm để chụp.

  Tôi theo hai người ở phòng chính sách đi một vòng quanh làng, gặp những cảnh đời quá đau thương. Có những gia đình gần ba mươi năm nuôi cả đoàn con giờ chết hết chẳng còn đứa nào, chỉ còn lại cái sáo ngày trước cho chúng nó vị tập bây giờ bơ vơ như kỷ vật của linh hồn, có đứa bé gái con chị N đẹp như thiên thần mù cả hai mắt, gia đình bị bán hết những gì có thể, vay mượn, cầm cố đưa con đi chữa hết Hà Nội, Sài Gòn nhưng đôi mắt của con vẫn tối tăm trong túp nhà khánh kiệt, chị T ở Cam Chánh - Mấy chục rồi không ai thấy chị cười, nỗi lo âu sợ hãi thường trực trên khuôn mặt chị. Chị ơi? Sao chị buồn vậy? tôi hỏi, rất lâu sau chị nghẹn ngào. Tui có bốn đứa con hai đứa chết rồi, đều chết đúng 11 tuổi. Thằng thứ ba năm nay chín tuổi. Thấy chị đi. Tôi hiểu rằng chị sợ số phận đứa con mình về hai năm tới. Ơn trời mong sao cho đứa thứ ba con chị qua cái ngưỡng oan nghiệt này. Lúc mới vào sân, tôi thấy có một bé gái khoẻ mạnh chừng 5 tuổi chạy vào nhà trốn sau bức phên. Tôi nói với cô gái phòng chính sách: Đứa bé này khoẻ mạnh chắc rồi sẽ ổn.

    Cô bảo: Nhà này bé nào lúc đầu sinh ra cúng khoẻ mạnh, lành lặn như thế anh ạ. Nhưng lớn lên nó mụ mị không biết gì, rồi teo cơ dần và chết. Tội lắm anh ơi. Thấy nhà cửa tềnh toàng tôi buột miệng hỏi chị:

- Chị ơi! Chị có nguyện vọng gì không?

- Nguyện vọng chi mô nờ, con tui chết rồi, tui nhớ con tui trời ơi?

Chị nấc lên. Tôi rời nhà chị như một kẻ trốn chạy.

    Những cảnh đời như thế luôn ám ảnh tôi, những thân phận buồn đau mà nụ cười bỏ họ ra đi chẳng bao giờ về lại. Về thôn An Thái, xã Hải Thượng huyện Hải Lăng, tôi gặp hai người mẹ anh hùng hoạt động suốt hai thời kỳ đánh Pháp và đánh Mỹ.Hai mẹ là chị em dâu sống trong một nhà. Mẹ Đào Thị Vui, sinh năm 1924 và mẹ Bùi Thị Nga - 73 tuổi, chồng mẹ Vui bị giặc Pháp bắt và chôn sống tại bốt Lồ Cồ.  Ngày đó mẹ mới 24 tuổi, thù giặc thương chồng vừa hoạt động Cách mạng và ở vậy nuôi con. Anh Thịnh người con trai duy nhất của mẹ theo cách mạng hoạt động bí mật, bị giặc bắt đày ra Côn Đảo. Ra tù, anh tiếp tục hoạt động và bị giặc bắn chết trong buổi chiều chạng vạng trên cánh đồng trũng trước làng. Gia đình ông Lê Lầm có ba người con trai. Hai người bị giặc pháp chôn sống, một người là chồng mẹ Vui. Anh Lê Thành con trai thứ ba của ông Lâm lấy chị Bùi Thị Nga sinh được một đứa con trai duy nhất là Lê Thăng - 14 tuổi, anh Lê Thăng theo cha mẹ hoạt động bí mật trong vùng địch, mẹ đào hầm bí mật, nuôi cán bộ nằm vùng. Bị bọn mật thám chỉ điểm, cả gia đình bị bắt giam. Ra tù, tổ chức bố trí cho anh Lê Thành tập kết, còn lại mẹ và Lê Thăng ở lại hoạt động. Đó là thời kỳ mỹ nguỵ đàn áp đẫm máu. Bây giờ kể lại một thời hoạt động, giọng mẹ vẫn đầy khí phách, cái ngày nớ cực lắm con ơi, vào tù nó nhốt riêng một buồng tối om, hắn đập dã man khỏi nói luôn, nhiều khi nghĩ em không sống nổi. Rứa mà mẹ là mẹ xác định rồi, hắn hỏi chị Miềng cứ nói là tui không biết chi hết, các ông giết thì giết đi, tui không biết thì lấy chi khai. Thấy Miềng nói cứng với lại không có tang chứng chi hắn phải thả về. Nhà mệ có ba hầm bí mật, nuôi cán bộ, hai cái ở ngoài vườn, một cái trong đụn rơm. Mệ nhớ có một lần nguy hiểm nhất là có người Miềng đầu thú, hắn khai trong vườn mệ có hầm bí mật. Rứa là lính kéo về lùng sục tìm mãi không ra. Bọn chúng đánh đập tra khảo sáng đến trưa. Mệ với chị Vui nháy nhau là không khai. Tức quá bọn chúng lôi kìm ra ghè đòi nhổ cả hàm răng. Lúc đó cái hầm trong đụn rơm có ông Lương bí thư Thị uỷ Quảng Hà nằm trong nớ. Hắn thấy chị Vui yếu vía hơn, một thằng cầm kìm bẻ răng chị Vui, chị đau quá nói: “Để tui khai. Mệ nói rứa là rồi đó con nờ. Một thằng nói khai đi, chánh nghĩa quốc gia sẽ khoan hồng. Sau này ông Lương nói tôi ngồi trong hầm nghe rõ mồn một, chú biết không! đụn rơm là ở ngay sát sân luôn, cách nhau một bước chân chứ mấy. Lúc nớ không biết tại răng mà mẹ không sợ chỉ lo hắn giết ông Lương. Thằng cầm kìm dục khai mau.Chị Vui mới nói: “Các ông làm tui đau quá, tui sợ tui phải nói rứa, chớ có chi mô mà khai. Thế là nó bắt cả nhà về giam ở đồn”.

    Về Quảng Trị tôi có hai người bạn thân, uống rượu như mưa, tâm hồn như nắng, Cao Hạnh đa tình, Văn Bốn đa mang. Hai người đều viết văn, làm thơ. Mỗi lần vào Quảng Trị chúng tôi lại cùng nhau đi tìm quá khứ. Quá khứ oai hùng thường ẩn dấu trong những con người vĩ đại. Trong mắt tôi, họ là những bản trường ca lịch sử, họ đã trang trải đời mình cho Tổ quốc quê hương. Trong rất nhiều người tôi gặp, tôi mê nhất hai người. Một là bác Lê Văn Hoan, hai là anh Nguyễn Minh Kỳ. Tôi không thể một lúc kể hết cả cuộc đời hoạt động Cách mạng của họ. Đó là cuộc hành trình bi tráng đằng đẵng 25 năm không thấy mặt trời bác Hoan. Ban ngày bác nằm hầm bí mật, tối rời hầm hoạt động âm thầm trong lòng địch. Bác Hoan sinh ngày 04/02/1932 ở xã Hải Thượng huyện Hải Đăng, tỉnh Quảng Trị. Mười ba tuổi tham gia cướp chính quyền và từ đó chiến tranh liên miên cuốn bác theo hơn nửa đời người. Mưu lược, thông minh, hiền lành, dũng cảm, với hàng trăm chiến công đánh Pháp, đánh Mỹ. Tôi chỉ kể một chi tiết nhỏ thôi. Năm 1969 Mỹ nguỵ phản kích chiếm lại toàn bộ đồng bằng. Lực lượng hoạt động nằm vùng thất tán, mất liên lạc. Bác được phải về mốc nối  cơ sở và tìm lại  tổ của đồng chí Trần Thị Tâm. Hai năm mất liên lạc, cuối cùng bác cũng tìm được nơi trú ẩn của  cô Tâm.

Đêm đó,người cơ sở dẫn bác đến một căn hầm sát đường quân cảng của Mỹ ở cảng Mỹ Thuỷ, người Mỹ gọi nơi này là khu vực bất khả xâm phạm . Căn hầm nằm dưới một ngôi mộ giả. Gặp Bác, Tâm mừng khôn tả. Hồi đó bác còn là một thanh niên trai trẻ chưa vợ. Đêm dó , bàn công việc,giao nhiệm vụ xong. Hai người nằm ngủ chung một căn hầm,căn hầm quá chật chội ép hai người nằm sát bên nhau. ngủ nha! Bác nói và quay lưng lại phía Tâm. Đó là lần đầu tiên bác ngủ chung với người con gái. Bác nằm im bất động quyết tâm ngủ nhưng không tài nào ngủ được. Tiếng thở dài của tâm mỗi lúclại dài . Hơi ấm từ tấm lưng dậy thì lan qua người, làm cho thân thể trẻ trai nóng nực. Tai ù đặc, không còn nghe thấy gì, không còn biết gì, không biết  chiến tranh, không biết Mỹ nguỵ, chỉ cảm thấy mơ hồ cái cùi tay, lâu lâu lại dụi nhẹ vào lườn anh. Anh nằm lặng hồi lâu , chợt tiếng nấc nở làm anh bừng tỉnh. Anh quay người lại, sao em lại khóc? Tâm nức nở.

- Khổ quá anh ơi!

- Ráng lên em, chịu khổ thời gian nữa thôi; chiến tranh rồi sẽ kết thúc.

- Không phải thế! Anh chẳng hiểu gì cả.

      Nói rồi Tâm cầm tay anh quàng qua ngực và bảo: Ngủ đi. Anh cảm thấy tiếng tim Tâm đập nẩy qua tay mình mỗi lúc một nhanh. Trong mê man nghe cặp mông cựa quậy, chạm vào bụng dưới mình như đang tìm kiếm vật gì mà đôi khi loài người bỏ quên vì một điều gì đó…

  Im lặng hồi lâu mặt thẩn thờ:

 Cô ấy bị giặc giết sau đó ít lâu.