Những người đàn bà vẽ nắng

February 25, 2008

                                    Ngòi bút kỳ vỹ nhất trên đời tôi thấy
                                    Là lưởi cày của cha ký hoạ cánh đồng
                                    Màu tím ngàn mây, màu chàm ở nắng
                                    Người trộn mồ hôi với niềm khát vọng
                                    Dãy núi mờ xa hình tượng bát cơm đầy
  Một bát cơm đầy! giản dị vậy thôi mà hành trình ngàn đời chưa tới. Quê tôi, một eo đất nằm chênh vênh trên cổ bình hương, miên man núi đồi, mông mênh biển và một ít đồng bằng. Quê tôi nghèo nổi tiếng, nó như một thứ ký tự nhục nhằn định vị trong ký ức những người ly hương kiếm sống, mặc cảm nghèo hèn chẳng dễ gì chối bỏ. Tôi ly quê từ ngày còn rất trẻ, đó là một chiều mùa đông, mưa lây phây trên những người đàn bà đi cấy. Tôi lên đồi nhìn quê hương lần cuối, nhìn khói bếp bần thần trên mái rạ và đồng làng chi chít ô vuông, những người đàn bà lom khom di động như những quân cờ tạo hoá trên ván cờ buồn! Quê hương đã cho tôi nỗi buồn. Nỗi buồn đã làm nên âm bản tâm hồn tôi từ ngày thơ dại.
  Chiến tranh, tôi nghỉ học trở về làng để nhập ngũ. Ngày ấy cả nước sục sôi, quê tôi cũng rộn ràng, từng đoàn quân ra trận nghỉ lại, rồi đi, các cô gái thanh niên xung phong quê ngoài Bắc qua làng. Tôi nhớ chị Tuyết Xinh. Tôi đã vẽ lên áo gối cho chị đôi bồ câu và hai chữ hạnh phúc để chị thêu. Chị đi rồi cả tháng trời tôi như kẻ mất hồn. Không biết chị có bình yên trở về sau chiến tranh! Tôi căm ghét chiến tranh nhưng chính chiến tranh đã làm cho con người thương yêu, gần gũi nhau hơn. Tình quân dân, tình đồng đội, thời đó thiêng liêng cao cả biết bao.Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì Miền Nam ruột thịt. Quê tôi ngày ấy niềm vui trở lại, hừng hực khí thế, những đêm liên hoan tiễn người tòng quân, bọn con gái hát, những bài hát thôi thúc lạ thường “ yên tâm vững bước mà đi hỡi người mà em yêu. Việc nhà việc nước dẫu có bao nhiêu em cũng làm tròn anh cứ yên tâm”…Rồi “ thanh niên quê tôi làm chiếc gậy hành quân, đặt cho tên gọi là chiếc gậy trường sơn… như nhắn nhủ những ai lên đường mà lời hứa với bao người thân”…Rồi bao nhiêu là ca khúc như Trên đỉnh trường sơn ta hát, Lá đỏ…Tôi cứ nghĩ đất nước Việt Nam thắng Mỹ ngoài sự hy sinh xương máu còn có sự đóng góp của những Nhạc sỹ. Tôi tôn thờ họ, những ca khúc của họ vượt qua giới hạn, tạo nên sức mạnh phi thường không gì ngăn nổi thôi thúc những đoàn quân ra trận hừng hực khí thế và làm nên chiến thắng. Chính họ đã tạo nên một phần tâm hồn dân tộc Việt Nam.
  Tôi một gã nhà quê “di cư” ra phố, lâu lâu trở lại thăm làng. Bao lâu rồi làng An vẫn vậy, vẫn con đường làng ướt sũng dấu chân trâu. Ngày xưa, ngày thơ ấy, lũ trẻ trẻ chúng tôi thường nói dấu chân trâu là trái tim làng quê. Bao lớp người đã mãi mãi ra đi, bao nhiêu đàn trâu một đời tận tuỵ với dân cày đến kiệt sức, khi giã biệt ruộng đồng còn bị cắt cổ phanh thây.
 Tôi ngồi trong hoàng hôn bên đống lá tre của ai đốt nhấm, mùi khói thơm le the, chập chờn, bãng lãng như cháy lên từ ký ức xa xăm . Trong tôi lại hiện về những người đàn bà vẽ nắng, họ là những thiên thần của mọi làng quê. Những người đàn bà hồn nhiên dung dị. Họ vẽ nắng suốt một đời,vẽ từ khi họ còn là thiếu nữ. Bao nhiêu thế hệ từ bốn nghìn năm dựng nước, họ miệt mài vẽ nắng bằng sự khát khao, bằng niềm tin bạo liệt. Họ vẽ qua tháng năm, qua kiếp người, vẽ nắng cho mình, cho người và vẽ nắng cho nụ cười muôn kiếp nhân gian. Họ là một phần nền móng vững bền cho dân tộc, khi đất nước bình yên, cả những thời chiến tranh loạn lạc. Họ cho đàn ông sự ấm áp, cho trẻ thơ lời ru, cho nhân loại sinh tồn và cho muôn đời đồng quê được nắng.
- Mày về lúc nào vậy?
Tiếng ai đó rất quen làm tôi sực tỉnh. Hoá ra là thằng Hồng.
- Làm về muộn thế mày?
Tao bừa nốt cho xong ngày mai còn xuống cấy. Thôi! về nhà tao uống rượu với dam rang muối; nói chuyện cho vui
Tôi theo Hồng về nhà, không về không được. Tôi biết hắn là một thằng hay tự ái. Ngày còn đi học cấp III nó học cực giỏi, thi một phát vào Đại học thẳng tâng. Vào trường vừa được mấy tháng, bị bọn con em thành thị nhạo báng là đồ nhà quê, chuyện đó cứ tái diễn, tức quá không chịu được nó thoi cho một thằng ộc máu mũi và tùa luôn hai cái răng cửa, vào mồm một thằng khác. Ngày ấy trường Đại học còn nghiêm lắm. Nó bị liệt vào hành động côn đồ và bị đuổi khỏi trường…
Vừa vào đến sân hắn quát:
- Con Nga đâu, ra đây, rửa dam rang muối cho cha. Hồng dựng cái bừa vào thành giếng, vớt cái oi treo lủng lẳng bên tay bừa, chân gạt cái thau nhôm cái rẹc, mở bưa oi, xổ ra một mớ cua đồng. Tôi nghe tiếng cua đồng bò rổn rãng bên thành thau. Rửa chân tay qua loa, Hồng mời tôi vào nhà, hắn lôi từ gầm bàn lên một chai rượu, rót đầy như kính lúp.
Nào! uống. Rượu lắc lư, tròng trành trên mái chén tôi nghe một tiếng uột, cả khối lửa lỏng biến mất đâu đó sau nụ cười buồn.
- Vợ mày đâu? Tôi hỏi.
- Mày không biết thật à. Vợ tao uống thuốc chuột tự tử rồi.
Tôi bàng hoàng và ái ngại, bất chợt ngước lên bàn thờ, sau những cùi hương đỏ đọc, vợ Hồng ở đó từ lúc nào. Qua ánh đèn cầy lay lắt, đôi mắt người con gái hoang vu nhìn về một cõi xa xăm nào đó. Lòng tôi se thắt. Thêm một người vẽ nắng ra đi.
Hắn lường thêm mấy chén cho vào cổ, lửa đã hừng lên trên khuôn mặt khắc khổ,răn reo.
- Đời tao quá chó mày ạ. Biết thế này chết quách ở chiến trường cho xong. Chí ít cũng có các thẻ liệt sĩ, một tháng được mấy trăm ngàn nuôi mẹ. Bây giờ về đi cày, suốt đời lấy lồn trâu làm thước ngắm. Một năm gánh 12 thứ thuế. Đau nhất là thuế an ninh quốc phòng. Đáng lẽ phải tha cho những thằng lính đã đóng thuế ở chiến trường chứ. Vợ tao chết vì quá sức chịu đựng và có lẽ cũng vì thương tao. Nó sinh một giàn bốn đứa con gái, mỗi lần như thế nó lại khóc, mẹ tao thì thở dài. Nó muốn tao lấy vợ khác, nhưng tao không muốn thế…Mày thoát được khỏi nông thôn là hạnh phúc cho mày. Đời nông cực khổ lắm mày ơi, ăn không đủ ăn, mặc không đủ mặc. Mày cứ nhẩm tính xem, ngày hè, bù ngày đông, một ngày, một người nông dân mất ít nhất một lít mồ hôi, một năm 360 ngày, với 40 năm vật lộn với đồng áng. Mày tính đi không phải là hơn 14000lít mồ hôi cho một đời người à. Mồ hôi mà không bốc hơi thì cả làng ta thành biển. Người làng mình bây giờ hầu hết bị bệnh phong thấp, tiền thì không có mà chữa bệnh đành phải dùng thứ này cho nó rẻ tiền. Hắn chỉ vào chai rồi nói: dùi cui đập xương đấy mày ạ. Mỗi ngày một chai 8 nghìn, mát xa xương hiệu nghiệm lắm. Mỗi ngày từ nhà ra đồng, theo trâu đi cày ngày làm 8 tiếng cũng ngót 5 cây số,nhưng chưa là cái gì so với cố Chắt Nắt gần 70 tuổi rồi. Một đời lầm lũi theo trâu, nếu tính cho nó rẻ, 5 cây số 1 ngày, cụ cống hiến cho ruộng đồng 40 năm cuộc đời thì cụ phải đi được trên 70.000 cây số. Nếu như không vướng biển thì cụ đã cày sang bên kia bán cầu.
  Con bé đưa lên một đĩa cua đồng đỏ lựng, đầy tú hụ, mùi cua đồng rang muối với ớt tươi thơm cồn cào làm thằng Hồng tắt hẳn cái loa kể khổ.
  Ăn đi mày, dòn lắm đấy, rồi làm bát cơm cà. Muộn quá không mua được chút mồi đãi mày. Gà thì chết dịch hết rồi. Cũng may nó dịch mà kiếm được miếng, nhưng cũng phải chờ cho nó dãy đành đạch nghẻo xuống đống rơm mới dám làm thịt. Nói thật nhé, ở làng ta chưa có ai to gan, đủ bản lĩnh làm thịt con gà khoẻ mạnh để ăn. 60.000 một cân gà bằng 2 yến lúa, bố thằng nào dám liều…
  Hồng tiễn tôi đến bờ tre, trong màn mưa cuối đông. Chắc đã khuya lắm, làng quê thiêm thiếp ngủ. Tôi thương làng tôi, thương những người đàn bà vẽ nắng. Đừng khinh rẻ họ. Đừng xem thường nông dân. Họ là phần trong trẻo nhất mà nhân gian còn sót lại. Bát cơm ta ăn hàng ngày đã đi ra từ bàn tay những người vẽ nắng. Những bàn tay xù xì thô ráp kia như những ngọn bút viết trong giấy ruộng bùn, qua mưa phùn gió bấc và những ngày hè rộp nắng. Đôi khi thiên tai đã xoá đi tất cả. Họ lại cặm cụi vẽ lại từ đầu, cho đến một ngày, những cánh đồng quê rực vàng lúa chín. Ấy là khi tác phẩm của họ đã hoàn thành. Tạo hoá đã cho trái đất ánh sáng mặt trời để loài người và mọi sinh vật khỏi bị huỷ diệt trong băng giá, thì chính những người nông dân đã làm nên sản phẩm để nuôi sống loài người. Nắng của những người đàn bà nông thôn là đồng lúa chín. Màu nắng đó đã làm ấm áp tâm hồn họ và nuôi sống ngàn vạn kiếp người
     Tôi rời làng khi đồng đang xuống cấy. Trong sương mờ buổi sáng, những người đàn bà dàn hàng ngang vẽ nắng. Những chũm mạ xanh nõn thẳng hàng tăm tắp được vẽ lên từ bàn tay tài hoa trông tựa hồ như những ngọn nến xanh thắp lên lễ hội mùa màng. Cánh đồng nhấp nhô những đường cong mỹ học, thân hình những người đàn bà vẽ nắng vút lên hình cánh cung, tạo thành nửa hình trái đất. Một nửa còn lại còn khuất lấp đâu đó trong nước ruộng bùn. Cũng có thể đang ở phía đêm mùa hè, khi trăng vừa lên, khi nước dội ào ào sau bụi chuối và hương, ấy là khi những người đàn bà tách vỏ. Họ như những hạt thóc thô ráp nhưng khi tách vỏ, sau làn da cám, mùi gạo tám thơm bừng lên trên da thịt. Hạt gạo tách vỏ trắng ngần. Ánh trăng lọt qua lùm chuối hương và dừng lại đâu đó trên nửa hình trái đất. Lúc này họ là một nửa của nhân loại.
   Tôi nghe như tiếng trẻ con vẳng lên từ tâm thức:
   Mẹ ơi tắm mau lên, vào ăn cơm, con đói rồi. Và tôi như thấy một mâm cơm đặt trên chõng tre giữa sân rời rợi bóng trăng vàng.

                                                                                                              Hà Tĩnh, ngày 8/1/2008.