Miền đất hoang vu và những mùa tình hoang dại

March 13, 2008

 Như loài hoa trinh nữ mọc miên man qua những triền đồi, con gái miền Choi coi như ngọn gió hoang, phóng khoáng cuốn theo những mùa tình hoang dại và không ít người trong số họ, má vừa chớm dậy thì đã qua mùa trinh nữ. Nỗi khổ đau không phải ở chỗ “nghìn vàng biến mất” mà là: đời này tiếp đời khác những cuộc hoang tình triền miên bất tận. Con không có cha, vợ không có chồng, dân vùng thượng gọi chung cho những người đàn bà không chồng là “Tre cụt ngọn”.

                                                        I – ĐÊM MIỀN SƠN CƯỚC

  Mồng 7 tết mà mùa xuân vẫn chưa về. Mưa, trâu kéo gỗ và những xe công nông đua nhau bằm nát những con dốc đất đỏ trơn tuột. Và bây giờ xe công nông cũng như một thứ phụ hoạ cho con đường kinh khủng nằm lại hếch mõ chờ nắng lên. Gã xe ôm chạy con Minscơ nhìn dốc để tìm đường lên, không có rãnh nào không lút đầu gối, xen kẻ giữa những rãnh hoăm hoẳm là những đường sóng trâu nhọn ngoằn nghèo và nhẫy, gã phán: “bom chiến tranh chưa là cái gì, thôi anh đi cho khéo kẻo trượt chân là vứt ống đồng đấy” gã quay đầu vù ga khét lẹt chạy trệo trạo trở về, còn một mình tôi bắt đầu thấy ớn, khó mà tìm được lối lên. Đôi “ống điếu” của tôi lâu nay chỉ sử dụng đi lại ở cự ly gần, liều là vứt đi. Tôi đành men theo chân ta luy lọp bọp ngoi lên dốc. Khi cái thứ màu đùng đục như khói bánh chưng sũng nước từ trong núi đùn ra mờ tịt, tôi mới lên được đỉnh dốc. Từ dốc Mụ Bà cho đến Cho Co chừng 10km, không thể đi xuyên đêm. Tôi lần đến một căn nhà có ánh lửa cách con dốc không xa.
- Ai đó?
- Tôi ở dưới xuôi lên.
  Trong ánh sáng thập thò hắt lên từ bếp lửa, tôi thấy người thiếu phụ thấp đậm, mặc áo cộc, quần xắn quá đầu gối. Có lẽ như cái giá buốt không ý nghĩa gì đối với chị ta.
- Đi lò mò cả đêm không sợ gì à. Không biết mồng 7 là ngày khai hạ à.
- Lỡ đường rồi vào xin anh chị nghĩ nhờ một đêm mai đi tiếp.
- Làm chi có anh – tui ở với 3 đứa con, mà có muốn ngủ thì trải ni lông giữa nhà, được một giường 4 mẹ con tui nằm chật rồi.
  Trên chiếc giường kê ở xó nhà mấy đứa trai gái lớn bé nằm gác lên nhau gáy xo xo. Mùi khoai lang mật chui qua khe hở của vung thơm ngọt lựng làm bụng tôi cồn cào.
- Khoai cháy. Tôi buột miệng.
  Cháy một chút mới ngon chị bảo thế và nhắc nồi xuống rồi đổ úp vào chiếc cạu gác sẵn trên cái cối đâm bột. Chị bảo: “Nhà hết gạo lâu rồi chú ăn khoai thì ăn”. Đói quá tôi vừa thổi phù phù vừa cắn ngốn ngấu những miếng khoai đỏ sẫm mềm và ngọt rút. Khi tôi ngẩng lên thấy chị đang cười.
  Nụ cười làm khuôn mặt chị rạng rỡ, đôi mắt nheo nheo hấp háy trong trẻ trung và tinh nghịch lạ lùng. Tôi và chị ngồi lặng lẽ rất lâu. Bếp lửa ấm rực, mùi nước chè xanh, mùi hôi nách từ chị đọng lại trong túp lều lợp lá cọ tạo nên không gian ấm cúng lạ thường.
- Hồi trẻ chắc chị xinh lắm.
- Xinh mần chi cho vô duyên. Hồi mới 16 tuổi bằng con ni (chị chỉ đứa con gái đang ngủ khèo trên giường) đã có mang nó đấy.
  Miệng nói mắt chị mơ màng, không biết chị sung sướng hay bồn chồn tôi cũng bần thần như trôi theo chị về tuổi 16 xa xăm.
  … Đêm ấy trăng mờ, lũ con trai, con gái kéo nhau ra đồi sim tán gẫu như mọi lần rồi tản mác đâu đó sau những lùm sim dại. Chị đang định ra về thì thằng T cầm tay kéo đi. Người chị đột ngột nóng ran đến chỗ lùm cây quá đầu người, hắn kéo chị ngồi xoài xuống và ôm chầm lấy. Chị nghe ngực rưng rức, toàn thân tê dại và mê mệt không còn biết gì nữa.
- Hồi đó tôi ngu lắm cứ tưởng bụng giun, xổ mãi không còn được con nào, càng xổ bụng càng to. Sau cùng mẹ tui biết chuyện đi tìm thắng T thì nó đã đi Miền Nam làm thuê từ lúc nào.
  Chị có buồn không?
  Lúc đầu thì có nhưng sau đẻ con ra cảm thấy vui. Ở đây chuyện chửa hoang là bình thường. Mình đẻ mình nuôi nhờ vả chi ai mà ngại.
  Thế bố của các cháu bây giờ ở đâu?
- Bố cao su chi mô nờ. Ba đứa ba cha. Một lão đi làm thuê rồi đi lấy vợ ĐắcLắc không về. Một lão đi trầm đến ở đây rồi mất hút. Một lão đào vàng. Ba lão trướt mất cả ba. Con ốm đau không được một nghìn mua dầu cù là. Tội, chúng nó nỏ được học hành chi cả. Con đầu đang đòi đi theo bạn bán hàng ăn dưới Voi. Ngày mai tui cho nó đi, kiếm cái quần cái áo mặc cho tử tế.
- Ngủ đi.
  Chị cầm tấm ni lông được chắp lại bằng những bì phân đạm u rê đã cứng queo vàng đục rải xuống nền đất, xong chị ngồi lên thành giường hai chân xoa xoa vào nhau và thổ bèn bẹt cho rụng đất, ẩy bọn trẻ vào trong và nghiêng xuống giường. Tôi dùng cái gối, quay người về phía bếp lửa, tội nghiệp cái mạn sườn của tôi tì lên cái nền nhà lổn nhổn và lạnh buốt, gió chui qua ngạch cửa vuốt dọc sóng lưng. Nghĩ là chẳng thể nào ngủ được vậy mà tôi thiếp đi lúc nào không biết. Một gã bóp chặt cổ tôi mắt long lên, tôi giật mình tỉnh giấc và mừng. Chẳng có gã nào cả chỉ có một cái bắpchân ai đó gác qua cổ tôi, tôi nâng cái cổ chân qua đầu và đặt sang một bên.
  Lúc này tôi đã tỉnh hắn, sao tôi lại nằm trên giường! Chắc đã khuya lắm, bếp lửa đã lụi chỉ còn ít than ửng lên đủ nhìn thấy lờ mờ người đàn bà nằm chòng quèo dưới đất. Sao chị lại đổi chổ cho tôi và đổi chổ bằng cách nào? Tôi chong mắt không tài nào ngủ được nữa, phần thì thương chị, phần thì quá đỗi hoang mang.

                                             II – “CON XÚC XẮC” TÌNH OAN NGHIỆT

  Từ hun hút tận ngàn xưa, nơi đây có một vùng đất có cái tên rất lạ, rất lạ bởi vì nó rất gợi, cái tên: Cho coi. Cho Coi cái gì? Không ai truyền lại chỉ thấy con gái ở đây rực lửa. Trong mắt họ như có tia sáng mặt trời trú ẩn. Tôi đến Cho Coi vào lúc sang trưa, mới mồng 8 tết, con trai làng đã đánh trâu vào rừng kéo gỗ. Cho Coi đẹp và nghèo với những dải đồi sim lặng lẽ như nín thở chờ người khác phá, con suối vội vã chảy trước nhà và không gian trầm tư thoáng đãng. Tôi vào nhà trưởng thôn: Lê Xuân Đức, anh đang chuẩn bị hòm xiểng cho con gái vào Nam.
- Anh được mấy đứa?
- Bốn đứa. Con này là con đầu cho nó vào Nam kiếm cơm.
- Anh chị cũng đẻ khoẻ đấy chứ.
  Tôi là người mẫu mực nhất làng trong vấn đề sinh đẻ đấy bố ạ. Lính về, lấy vợ muộn, đẻ muộn. Ở đây vợ chồng người ta đẻ 8 đến 10 đứa là bình thường. Trừ những trường hợp không chồng, chồng bỏ thì mới ít con thôi. Ông Hiệu xóm tôi mới 46 tuổi, ba vợ 17 đứa con, bà Tuế, bà Uyến, bà Luyện mà đẻ hết trứng thì ít nhất cũng 17 đứa nữa.
- Nghe tin “tre cụt ngọn” xóm mình nhiều lắm?
- Xóm thì nhiều vừa vừa còn cả xã thì bát ngát. Số chửa hoang chiếm tỉ lệ rất cao. Tôi biết cách đây 2 năm ngành Y tế thống kê xã có 70 trường hợp không chồng bây giờ thì chắc hẳn hơn trăm.
- Có trường hợp nào bi đát lắm không?
- Anh cứ đi khắc biết, mênh mông những chuyện bi hài. Xã Kỳ Thượng có 11 xóm, 13 địa bàn có 90 đàn bà không chồng ở lứa tuổi sinh đẻ…

Căn nhà tối lờ mờ vẳng tiếng ru ơi hời như vọng từ tiền kiếp, có lẽ thứ lần đầu tiên tôi nhìn thấy là ánh sáng hắt ra từ mắt bà, một thứ ánh sáng hoang dại không chịu tắt dẫu đã gần ngót một thế kỷ trôi qua. Ngồi một lúc lâu tôi mới thấy rõ bà ngồi trên chiếc võng gai, trong lòng bà một đứa trẻ chừng vài ba tháng tuổi đang ngủ tít, bà nhớ láng máng bà đã sống chừng 75, 80 năm gì đó nhưng cuộc đời bà thì bà nhớ rất rành rọt, có lẽ đó là những vết thương lòng bà không ai chữa giúp nó đau đến tận bây giờ. Tôi là kẻ đầu tiên khơi nguồn ký ức cho bà, bà bảo mấy chục năm rồi không ai thèm nói chuyện với bà, thế là nỗi ấm ức trong lòng bà vỡ oà ra. Ngày tuổi bà thập lục, mặc mấn ru bầm, yếm sồi thế là mỗi lần đi chợ bọn con trai cứ bám lẳng nhẵng không cho về, trong số đó có một người bặm trợn dám đương đầu với cả lũ con trai để bảo vệ. Bà mê ông, đêm đêm trốn nhà ra đồi, đó là những ngày hạnh phúc nhất đời cô Thá. Ít lâu sau, bụng Thá dần dần đầy lên, đến tận bây giờ bà Thá cũng không hiểu sao được người đàn ông bà không muốn nhắc tên ấy lại không cưới bà. Ở làng bên có người đàn ông họ Cao đã luống tuổi muốn theo cô Thá về làm vợ lẻ, bà nhắm mắt theo ông. Đứa con của mối tình hoang dại ra đời mang họ Cao: Cao Thị Tâm, Tâm lớn lên hồn nhiên xinh đẹp và bạo liệt. Bỏ lại những đứa em cùng mẹ khác cha từ biệt ngôi làng heo hút, đói nghèo Tâm lần ra thành phố…Đứa trẻ chợt ho hoe khóc, bà ngừng kể để nựng nó…ù ù thằng cha mày khái bắt đi đâu, không cho con được đọi đường quấy bột ù ù. Nín đi chắt ngoại của bà. Bà vừa nựng vừa rủ rỉ: Con Tâm đi chừng một năm, một đêm thấy nó gọi cửa, tui ra mở cửa, thấy nó bồng trên tay một đứa đỏ hỏn, quần áo còn bê bết, tôi hoảng hồn gọi mấy chị em nó dậy bỏ lửa, nấu nước tắm rửa cho hai mẹ con. Ở nhà được gần một tháng, một bữa nó bảo tui: Mẹ ơi bồng cháu cho con một tý. Thế rồi chiều tối không thấy nó về, con bé đói sữa khóc ngất. Chưa được một tháng tuổi không ăn được gì bà đành quấn giẽ, ẵm cháu đi xin sữa. Một ngày , rồi một tuần, rồi một tháng chẳng thấy con Tâm trở về. Người thì cho rằng nó đã đi tự vẫn, nhưng bà biết tính nó, nó không phải là đứa yếu mềm, nó đã bỏ đi rồi. Ngày ngày bà ẵm cháu đi xin sữa những mụ đẻ trong làng, nhận đủ điều xỉ vả: “Đồ mẹ nào con nấy”, “Con hư tại mẹ”. Bà cay đắng vô vàn, cay đắng gấp trăm lần ngày bà trót dại. Bà ôm cháu khóc hu hu, đứa cháu tội nghiệp không có sữa khóc đít teo, chân còn da bọc xương ai cũng bảo nó chết. Con bé phải ăn nước cháo khi vừa đầy vừa đầy tháng, bà không thể chịu nhục thêm được nữa, sống chết nhờ trời, không có sữa thì nuốt cháo, hết gạo thì uống nước bột sắn mài. Bây giờ có tiền là có đường có sữa, con cái thời ấy thắp đuốc cũng chẳng tìm ra. Ba năm cháu gái tên Linh vẫn chưa biết chững. Trong làng hễ nơi nào làm thịt chó là bà xin chân về hầm cho cháu ăn. Linh ăn hết 8 đôi chân chó thì đi được.
  Khổ cái thân tui chú ạ, đây không phải là lần đầu mà trước khi sinh con Linh nó đã mang về một thằng con trai rồi lặng lẽ bỏ đi.Vài năm sau nó lại đưa về tiếp một thằng nữa rồi lại đi biệt. Nghe tin nó đi tù, ra tù nó đưa về thằng con trai lớn đi theo cứ tưởng nó đưa con đi học hành ở đâu nào ngờ nó đưa thằng Kiên ra Hưng Yên lừa thế nào cắm được chục triệu đồng rồi mất hút. Bây giờ nó đang đi tù ở Đồng Sơn - Đồng Hới - Quảng Bình, nó viết thư về cho cậu mợ bảo đang ốm. Biết vậy thương lắm nhưng lấy tiền đâu mà đi thăm, đời tui cực, đời nó còn cực hơn nó đi tù như đi chợ. Tù ở Cầu Đông Hà Tĩnh 2 năm, trại 6 Nghệ An 3 năm, Huể, Đà Nẵng 4 năm, Quảng Bình 3 năm. Nghe nó bảo tháng ni được ra tù. Linh vừa đặt gánh củi xuống chạy ra ôm con và cho con bú. Mới sinh được một tháng Linh phải vào rừng chặt củi. Bà thương Linh đau yếu từ bé nhưng chẳng biết làm sao. Bây giờ thằng bé đã được hơn một tháng.
  Mấy mẹ con bà cháu sống nhờ vào ông cậu làm nghề mổ lợn. Linh như con “xúc xắc” ái tình, bà gieo từ thuở trước, mẹ Linh nhặt lấy và ném xuống đời Linh. Linh yêu S làm nghề chữa xe máy ở chợ Kỳ Thượng. Cũng như bà, như mẹ, Linh yêu đắm say mà không hề nghĩ rằng mình bị phụ bạc. Khi Linh báo với S. “Em đã có thai”. S lặng lẽ lảng tránh, vốn là một gia đình gọi là có chút máu mặt, bố mẹ S từ chối thẳng thừng. Bà Thá ngậm ngùi nuôi con, nuôi cháu và bây giờ là chắt ngoại. Không biết rồi Linh có nhẫn tâm bỏ bà ra đi như mẹ mình không. Dòng sông tình hoang dại chảy qua đời bà, con gái bà và cả cháu gái và biết bao nhiêu con gái khác. Một dãy đất Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng có đến hàng mấy trăm người đàn bà không chồng, họ sống hồn nhiên như cỏ cây muông thú. Họ sống hoang đàng thoả mãn những cuộc tình hoang dã. Họ không cần biết cuộc đời những đứa con họ sinh ra sẻ đi về đâu.

                                                  KHẮC KHOẢI VÙNG SÔNG NHE

Con sông Nhe lặng lẽ chảy qua cánh đồng, chảy qua ký ức tuổi thơ bao nhiêu thế hệ, dòng sông dịu hiền ôn hoà quá đỗi, thế nên chẳng có bên lỡ bên bồi. Xã Vĩnh Lộc nằm bên hai bờ sông một vùng quê nhỏ bé đủ để tiếng chuông chùa vừa rung lên ở Vĩnh Phúc đã nghe ngân nga phía Hạ Triều. Ngày giặc Mỹ ném bom xuống cầu Nhe, dòng sông hoá dòng nước mắt, âm thầm trôi qua làng. Đôi khi những buổi sau chiều từ đâu đó vời xa, biển đẩy nước về trả lại cho sông. Cứ như dòng sông đưa về biển những giọt điêu linh mà biển không thể nào chứa nổi. Tôi ngồi bên cầu Nhe xưa, chiếc cầu giờ chỉ còn một nhịp. Một nhịp đã bỏ dòng sông ra đi cùng với 53 chiến sĩ và 17 người dân trong trận bom Mỹ trưa ngày 15 tháng 4 năm 1968.
  Mặt trời đã xã hết cơ số nắng cuối cùng rồi biến mất. Còn lại tôi và ông Cội. Ông nhìn như thôi miên xuống dòng sông đắc quánh hoàng hôn. Hình như ông thấy cái gì đó, ông là người một nửa của dương gian. Tôi đang nghĩ về ông như vậy. Đột nhiên ông thốt lên, đây có 70 người chết. Tôi nhìn xuống dòng sông đen ngòm chẳng thấy gì chỉ có cảm giác như có con rắn vừa luột ngược sống lưng. Vừa định thần thì một bàn tay lạnh buốt lầy nhầy cầm tay tôi kéo đi, được khoảng chục bước, ông dừng lại bảo: “Đây này! Ngay đây ông Út xóm Hạ Triều đã đào được”.
- Đào được cái gì? Tôi hỏi.
- Một anh bộ đội.
  Giọng ông bập bùng khi tắt khi đỏ, quá khứ chợt hiện qua sáng tối lờ mờ.
  Ông Bùi Quốc Út đang đào mương làm thuỷ lợi chợt chạm phải một vật gì đó đánh cạch một cái, tự nhiên trong người ông có cảm giác rất lạ chưa từng thấy bao giờ. Bất giác ông bỏ ven dùng tay bới đất, lát sau một khẩu súng được moi lên. Đó là một khẩu súng AK đã mục hết phần gỗ. Mọi người xúm lại giúp ông bới tiếp, một vật tròn tròn lộ ra, có lẽ là một quả mìn định hướng. Nghe vậy mọi người dạt ra. Không phải, đó là một chiếc bi đông nhôm, kéo theo một chiếc thắt lưng màu máu khô. Cuộc đào bới bằng tay diễn ra thận trọng và trang nghiêm. Bộ hài cốt người lính ôm súng gần như nguyên vẹn hiện ra. Thi hài anh được khâm liệm, đưa về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Lộc. Đêm đó lễ truy điệu được cử hành. Trong nhà ngoài sân chật ních người, đủ các thành phần già, trẻ, trai, gái. Cán bộ huyện về tiến hành lễ tang, phút mặc niệm cả sân người im phăng phắc. Bó hương bất chợt bùng lên cháy rần rật như báo hiệu hồn người đã về nhập xá. Anh Nguyễn Văn Thạch xã đội trưởng được Đảng uỷ giao cho nhiệm vụ thay mặt thân nhân người đã khuất túc trực làm nghi lễ, lạy tạ lễ bà con đến phúng viếng. Hoa quả, bánh kẹo, hương rượu dâng hồn người đi, như anh vừa mới hy sinh hôm qua. Chỉ có bức trướng là không có tên. Buổi chiều anh Thạch đã kỳ cọ rất kỹ chiếc thắt lưng và cái bi đông hy vọng tìm ra tên người khắc lên đó nhưng anh đành thở dài: “Thêm một liệt sỹ vô danh”. Có việc cho rằng việc người lính ôm súng xuất hiện không phải là sự ngẫu nhiên mà do đồng đội anh cử về báo: Chúng tôi đang ở đây…
  Lúc đầu tôi rất mê ông Cội, ông là lính thời chống Pháp. Nhập ngũ năm 1950, ra quân năm 1957, hai Huy chương hạng Nhất: 1 Huy chương vẻ vang, 1 Huy chương chiến thắng và hai vết thương trên mình. Trông ông bàng bạc như bức tượng mà não, nhưng càng về đêm ngồi bên ông tôi càng cảm thấy ớn lạnh, tưởng như hơi lạnh toát ra từ bức tượng biết nói này. Nhiều lúc tôi khiếp, muốn lái ông nói sang chuyện khác nhưng chẳng ích gì. Lời ông đen sóng sánh như dòng sông đang trôi, khởi nguồn từ ký ức xa xăm một thời bi tráng.

Ngày ấy cách đây 35 năm, ông Nguyễn Huy Cội là xã đội trưởng xã Vĩnh Lộc huyện Can Lộc. Trưa ngày 15 tháng 4 năm 1968 có 3 đơn vị bộ đội trên đường hành quân vào Nam chiến đấu khi qua cầu Nhe bị bom Mỹ đánh vào giữa đội hình. Cầu Nhe tan một nhịp, sông Nhe đỏ máu lẫn bùn đen. Các đơn vị củng cố đội hình tiếp tục hành quân, giáo lại cho địa phương số chiến sĩ thương vong còn tản mác đâu đó trên lòng sông, trên cánh đồng lúa tháng 4 bỏng rát. Dân đổ ra sông ra đồng kiếm người thân. Chính quyền gấp rút tổ chức lực lượng mang người đi cấp cứu tại bệnh viện sơ tán. Ông Cội được giao nhiệm vụ tổ gom thi hài…
- Không còn thấy người lành lặn đâu chú ạ. Ông thở hắt ra và nói tiếp: Tôi phải cắp bì con én đi dọc dòng sông lội qua ruộng lúa đi nhặt từng mảnh xương, mẫu thịt…Để sót là có tội chú ạ. Thấy trong hòm nhiều nhiều một tý là mình đỡ đau ruột. Có lần giữa ruộng lúa chợt thấy tia máu vọt lên từ ụ đất mới, gọi anh em đào bới lên thì máy bay đến ném bom. Mãi đến tối anh em mò ra bới đất mang người về. Anh bộ đội có giấy tờ mang tên Huỳnh Văn Kháng quê ở Hải Phòng. Mang anh về làm lễ truy điệu và mai táng xong, lại có tin phía hạ lưu sông đẩy người lính vào chỗ cạn và vác lên. Lúc này thi thể người lính đã vỡ ra chảy ròng ròng theo người tôi. Người lính đó tên là Nguyễn Văn Giới quê ở Hải Phòng. Làm lễ xong lại đi. Quần đảo với nắng tháng tư giữa tơi bời những sinh linh tử trận. Tội nhất là ông Chính trị viên huyện đội Can Lộc chú ơi! Cái hòm rộng thênh thang chỉ có một khúc ruột cuộn dính chặt vào cái thắt lưng (may mà thắt lưng có tên) còn người bay đâu mất không còn một mảnh. Thế mà chỉ tìm được 22 người trong số 53 chiến sỹ. Lâu lâu người vạn chài lại mò được cái mũ cối, đôi dép đúc, một cái ví có ảnh con gái nhoè nhoẹt không nhận ra mặt, một đoạn xương ống chân. Họ mang về chôn bên bờ sông và thắp hương cầu khấn.
  Đã 35 năm trôi qua. Đoàn quân ra trận ngày ấy không biết ai còn? Ai mất? Nhưng rồi có một buổi chiều, đó là ngày 31 tháng 5 năm 2003 anh Phạm Văn Mừng là lính trong đoàn quân ngày ấy từ Kiến Thuỵ, Hải Phòng trở về Vĩnh Lộc. Anh lội ào ào qua sông nơi ngày xưa bom đánh, khóc tức tưởi, nước mắt rần rần. Không biết đồng đội có nghe tiếng khóc của anh không. Người dân Vĩnh Lộc đón anh như một ông vua, ông vua hiện về từ cõi tâm linh, thoả tấm lòng khao khát của người dân thay cho linh hồn những người khuất nẻo. Chưa bao giờ họ cảm thấy âm dương gần gủi đến thế. Có đồng đội về thăm rồi! Tiếng ai đó nghe nghẹn ngào. Qua anh mọi người được biết qua đơn vị ngày ấy dẫu có mất mát ở chiến trường nhưng vẫn còn phiên hiệu và chiến thắng trở về. Những vui buồn xa cách, những chuyện về đồng đội nằm lại của anh, những dự kiến cho thời gian tới đan xen núi anh đến tàn canh. Sáng sớm anh lên nghĩa trang thắp hương cho 16 liệt sỹ. Còn 37 người không biết thắp hương vào đâu, anh cắm hương bên mố cầu Nhe lan tràn cỏ dại. Trước lúc ra về anh gửi lại cho chính quyền xã một lá thư cũng không hẳn đó là một lá thư, nó như một lời ước nguyện từ tấm lòng một người lính đối với đồng đội đã hy sinh. Tôi xin phép anh Mừng được ghi lại nguyên văn tờ thư.
  Ngày 31 tháng 5 năm 2003
  Lưu Trọng Quát liên lạc đại đội 2 D351, số điện thoại: 065.647179
  Đồng chí Thành trợ lý quân lực D351 huyện Tiên Lãng - Hải Phòng
  Đồng chí Khải 48 đường Tô Hiệu - Quận Lê Chân - Hải Phòng
  Phạm Văn Mừng đại đội 2 D351 E7 F350.
  Hành quân vào Nam trên đường tới địa phận cầu Nhe xã Vĩnh Lộc thì bị máy bay Mỹ ném bom xuống cầu, đơn vị trên cầu hy sinh tới nay chưa xác định được cụ thể bao nhiêu?
  Nhân danh là cá nhân còn sống nay trở lại thăm lại cầu Nhe tôi có vài điều mong được Đảng và Nhà nước quan tâm.
1. Thành lập Ban liên lạc giữa D351 với chính quyền xã Vĩnh Lộc.
2. Bộ Chỉ huy thành đội Hải Phòng F350 và Quân khu 3 có kế hoạch cùng với địa phương giải quyết những tồn tại sau chiến tranh theo ý nguyện của thân nhân, liệt sỹ cũng như chính quyền địa phương.
3. Dựng bia tưởng niệm để nhân ngày 27 tháng 7 hàng năm anh em D351 tổ chức vào thăm viếng.
  Cuối cùng tôi rất mong được sự quan tâm của các cấp chính quyền của hai địa phương Hải Phòng và huyện Can Lộc tạo mọi điều kiện để toại nguyện ý nguyện trên.
  Phạm Văn Mừng
  Ngày 10 tháng 7 năm 2003 UBND tỉnh Hà Tĩnh triệu tập gấp rút cuộc họp về việc tiến hành khoanh vùng tìm kiếm hài cốt liệt sỹ khu vực cầu Nhe, xây dựng đài tưởng niệm và khắc bia 53 liệt sỹ đã hy sinh tại nơi này. Cuộc họp được các tổ chức liên quan thống nhất và đi đến quyết định. Hoàn thành công việc tìm kiếm hài cốt xong trước mùa mưa bão. Trong cuộc họp đồng chí Trần Đức Hạnh – Phó Chủ tịch UBND huyện Can Lộc sau khi phát biểu đã đọc một lá thư viết vô cùng xúc động của anh Đỗ Văn Sơn – xóm Bấc – xã Phục Lễ - huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng tôi xin trích một đoạn trong lá thư này.
  “Đơn vị chúng tôi là Tiểu đoàn 351 Trung đoàn 7 Quân khu 3, toàn là lính Hải Phòng trừ một số cán bộ sĩ quan là ở các tỉnh khác (số hiệu đi B là đoàn 1019) chúng tôi nhập ngũ tháng 12 năm 1967. Ngày 11 tháng 3 năm 1968 thì đi B. Đúng ngày 15 tháng 4 năm 1968 đi qua xã Vĩnh Lộc. Hôm ấy tôi nhớ trời rất nắng, lệnh của Tiểu đoàn trưởng là cố gắng đi qua cầu sang xóm bên kia nghỉ, lúc đó đã gần 12 giờ trưa. Đột nhiên máy bay Mỹ tới ném bon đúng giữa cầu Nhe. Tức là giữa đội hình Tiểu đoàn chúng tôi, cú đánh bất ngờ chúng tôi chỉ kịp lăn ra vệ đường và lao xuống ruộng lúa. Khói mù mịt chẳng biết ai còn, ai mất…
  Sau khi giải phóng miền Nam, chúng tôi trở về quê hương, nhưng đa số anh chị em thương tật ốm đau, nhiễm chất độc hoá học nên sức khoẻ yếu, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Nên dù có những ước muốn, muốn về thăm lại chiến trường xưa hay trở về cầu Nhe thắp hương cho đồng đội đã hy sinh cũng khó thực hiện được…”
  Do chiến tranh, tài liệu và danh sách liệt sỹ bị thất lạc. Tháng 7 năm 2002 Chủ tịch và Bí thư UBND xã Vĩnh Lộc đã ra Hải Phòng đến các đơn vị có liệt sỹ hy sinh ngày 15 tháng 4 năm 1968 tại cầu Nhe để xin danh sách về khắc bia tưởng niệm gồm: Tổng cục Hậu cần 22 liệt sỹ, Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng 10 liệt sỹ. Riêng 20 liệt sỹ thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 3 chưa lấy được danh sách.
  Đọc hết số giấy tờ, ban chiều anh Ân - Chủ tịch xã Vĩnh Lộc đưa cho tôi, đang đọc tiếp tên và quê quán các liệt sỹ thì tự nhiên đèn pin tắt ngấm. Tôi quay sang ông Cội, ông đã biến đi từ lúc nào. Trăng đã leo qua ngọn tre, trăng 14 tròn ngơ ngẩn. Đâu đó mùi hương trẻ bồn chồn vẵng qua trong gió. Người ta nói rằng khói hương là chiếc cầu người sống bắc cho người đã khuất đi về. Tôi cứ băn khoăn lỡ khoảng cách xa quá cầu vồng khói không bắc được thì sao. 35 năm đã qua đi. Xung quanh tôi các anh vẫn còn nằm khuất lấp đâu đó bên bờ sông trên cánh đồng chiêm trũng.

                                                        CHUYỆN KỂ TIẾP:
                                                     BÊN DÒNG SÔNG NHE

Đã từ lâu, rất lâu khi kết thúc chiến tranh, những người thân đi tìm những người thân nằm trong lòng đất ngày càng trở nên ráo riết hơn. Từ những ngày ấy tôi đã khát khao có hàng loạt máy dò hài cốt để mang người “Đã khuất” về quê hương. Ai cũng sinh ra và lớn lên từ một vùng đất nào đó, ký ức cuộc đời thường mang đậm những khoảnh khắc ấu thơ và tháng năm chập chững vào đời. Những người xa xứ khi về già ai cũng vọng nhớ cố hương và những “người đi” chắc ai cũng muốn về quê cha đất tổ. Nửa thế kỷ qua con người đã làm được bao điều kỳ diệu. Phát minh ra biết bao thiết bị hiện đại những thứ tưởng chừng như không thể. Tôi cứ day dứt mãi tại sao lại có máy dò hòm mìn, dò vàng và bao nhiêu thứ khác mà tịnh không có dấu hiệu nào phát minh ra máy dò hài cốt. Lẽ nào loài người không thể làm được điều này. Tôi đã lặn lội tìm một số bạn bè cũ, bây giờ họ là các nhà khoa học. “Mày là thằng hâm, quên ý nghĩ đó đi. Thời đại bây giờ phát minh những gì ra tiền. Làm khoa học mang tầm vóc thời đại chứ không là hoài cổ”. Tôi thật sự buồn đành đem khát vọng của tôi nói với thằng bạn lính. Giá bây giờ có máy dò hài cốt, trên đó gắn màn hình hiển thị thì quý biết bao nhiêu. Trong không gian có còn những vùng âm thanh thuộc về quá khứ làm sao thu về, lập một ngân hàng âm thanh. Có thể trong đó lời tỏ tình của những người lính trước giờ ra trận, lời vĩnh biệt của người tự nguyện cắt ngang nửa phần sau của đời mình trao cho Tổ quốc hay hay lời ru của người mẹ mà thuở ấu thơ khi ta mới là con người tự nhiên chỉ biết nghe mà chưa biết mẹ ta gửi gắm những gì trong âm thanh lời ru đó.
- Khó đấy! Nhưng nếu có nhà khoa học nào tâm huyết thực hiện ý tưởng của cậu chắc chắn sẽ có ngày thành công.
Tôi thấy nguôi ngoai phần nào sau lời an ủi của bạn tôi. Bây giờ miền tâm linh rộng mở, lan qua tình cảm con người. Âm dương gần gũi như bờ dậu láng giềng. Lòng hướng thiện của con người đang sống lại.
  Tôi trở lại dòng sông Nhe một ngày khai Thu. Nắng ngổn ngang trên những vùng đất vừa được xén lên từ bàn tay của máy dò tìm hài cốt “420 máy dò di động” cần mẫn và chính xác không đế sót một khẩu xương hoặc bất cứ một báu vật nào.Một dải đất rộng hai bên bờ sông chừng một cây số được lật ngược lên nằm úp bát lên nhau. Qua tầng đất mặt, đến đất sét, đến đất gan trầu. Có những bộ hài cốt bị vùi sâu 2 mét. Lực lượng đoàn thanh niên, dân quân tự vệ được điều về từ 4 xã: Khánh Lôc, Nhân Lộc, Yên Lộc và Vĩnh Lộc. 420 người họ như những máy dò hài cốt và còn hơn thế bởi tấm lòng tình cảm và sự tôn nghiêm. Một lực lượng tự nguyện khác là những cựu chiến binh, linh cảm chiến tranh còn tồn tại vẹn nguyên trong họ. Họ nhận ra dấu hiệu từ màu đất, từ mùi bùn lạ hay một thoáng bất chợt rùng mình. Họ rửa ráy tỉ mẫn từng mẫu xương, xếp ngay ngắn vào quan tài và lời thì thầm chỉ đủ cho người đã khuất nghe.Nhìn đống di vật được gom về để dưới đất, tôi bảo các anh cẩn vệ đưa đặt lên bàn. Một cái núm mũ cối, một chồng công binh, một quả lựu đạn, một lọ thuốc chống vắt, cột cái dao găm hoen rỉ, một đôi dày vẹt gót, ba chiếc dép đứt quai. Tôi rụ rời thương về câu thơ thiêng ai đó gửi người yêu cũ. “Anh đi vẹt tháng năm dài. Thời gian theo dép thay quai chuyển mùa”. Tôi cầm chiếc lược nhựa màu đen, lật qua lật lại trên vành lưng lược còn nguyên hai chữ Tiền Phong, một chiếc lược sừng khác đã gãy một nửa. Ai đã tặng cho các anh chiếc lược này trước ngày ra trận?. Có thể là một người con gái anh yêu ký thác hết thảy tình cảm của mình vào đó và khi anh cầm chiếc lược lên mỗi sáng anh chợt thấy khuôn mặt người yêu ẩn hiện hay đêm về sau những ngày hành quân mệt lữ, anh lại móc chiếc lược trong túi cóc ba lô ra trò chuyện gởi gắm nổi nhớ thương về một miền quê xa lắc. Nơi đó đêm nay có người con gái đứng cuối bờ tre nơi hò hẹn xưa trăng sáng bồn chồn. Chiếc lược sừng hơi thô có lẽ là chị gái tặng em trai với lời dặn: - Vào bộ đội rồi em phải chỉnh tề vào, không phải lúc nào đầu cũng rối như tổ quạ …Bây giờ các anh nằm đó trong chiếc quan tài bằng sành thân hình thiếu hụt. các anh được đưa lên từ tầng đất sâu, dưới ánh đồng lúa còn xanh gặt vội, 24 phần hài cốt được khâm liệm, phủ cờ đỏ sao vàng, xếp hình theo đội hình hàng ngang trên những chiếc bàn kê cao trong căn nhà bạt dã chiến. Hai bên cánh gà lều bạt, hai người lính cảng vệ quân phục màu trắng bồng súng đứng canh giấc ngủ vĩnh hằng. Chúng tôi vào thắp nén hương khấn vái linh hồn các anh, khói hương bịn rịn như nửa buồn vui đón người từ cõi âm về thăm trần thế. Cháu Nguyễn Xuân Vũ từ Quốc Oai-Hà Tây được tin tìm về Vĩnh Lộc thăm cha là liệt sỹ Nguyễn Hồng Chức. Vũ quỳ trước 24 linh cửu khóc ngất ngư. Làm sao cháu biết được đâu là cha mình. Ngày anh Chức ra đi Vũ mới tròn 2 tuổi. Tình yêu thương cha lớn dần lên trong lời mẹ kể. Và biết đâu qua khói tâm nhang, qua tiếng khóc cha ấm ức, anh Chức đã nhận ra đứa con bé bỏng ngày nào. Các cụ già nhất quyết không cho mang các anh lên nghĩa trang liệt sỹ huyện. “phải để các con ở đây, lập nghĩa trang chôn tại đất này, hồn chúng nó còn ở đây, xương thịt còn thất tán ở đây”…
  Nhớ hôm 14/7 âm lịch cuộc họp cuối cùng tại Sở thương binh xã hội quyết định cho việc khởi sự tìm kiếm hài cốt các liệt sỹ tại cầu Nhe. Anh Trần Quyết Thắng, phó Chủ tịch tỉnh giọng buồn như chùng xuống “ngày mai đã là ngày rằm tháng 7, để các anh yên nghỉ, hồn về với tổ tiên. Đến ngày 16 ta bắt đầu vào việc”. 5 giờ sáng 16, sương mù còn treo áo trên vùng cỏ may, ban chỉ đạo đã ra thắp hương. Thật lạ! khói hương cứ luẩn quẩn không đi và một tia gió rít mạnh, kẻ chỉ một vệt khói hương, như có linh ứng, những người cắm cọc tiêu, cắm theo đường gió, 8 giờ sáng cuộc tìm kiếm bắt đầu, những nhát ven căng chùng theo độ sâu, những cảm xúc buồn vui lo âu hồi hộp tan vào nhau không còn phân định nổi. Ai lại vui khi nghĩ về người đã khuất nhưng làm sao không vui khi 35 năm trời tìm thấy những liệt sỹ bơ vơ giữa đồng cỏ may, cỏ lác chưa có chỗ yên nằm. Theo vết cọc tiêu, hài cốt 7 liệt sỹ nằm thẳng hàng lần lượt được đào lên chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Nổi lo toan ban đầu của mọi người như vợi bớt. “ ơn trời thế là hài cốt vẫn chưa hoai thành đất” lời ai đó âm hưởng reo lên như tiếng chuông nguyện cầu. Hôm nay đã là ngày thứ chín, 24 bộ hài cốt “có bộ còn gần như nguyên vẹn”, đã được khâm liệm. 16 quả bom ném vào đội hình các anh, bảo làm sao nguyên vẹn cho được. Có thể những mảnh thân thể còn lại đã tan vào dòng sông, tan vào đất quê Vĩnh Lộc, tan vào 140 mùa mưa nắng bão giông. Ngày ngày gần 500 người như những chiếc máy vẫn đau đáu dò tìm. Đêm đêm bồn hương rực đỏ, lời khấn nguyện báo ứng như lối dò linh nghiệm. 3 ngày ròng rã mưa, mưa hối hả, những bờ tre, đồng lúa không kịp ngẩng mặt thế mà có một điều lạ, mưa quanh mưa quất riêng vùng dò tìm hài cốt gần 1km2 không hề mưa. Cứ như có bàn tay vô hình nào dương chiếc ô khổng lồ che chắn. Lâu lâu có những hạt mưa lạc về như báo hiệu sự mưa gần. Mấy trăm con người chứng kiến sự khác lạ của đất trời. Hài cốt những người còn lại bây giờ ở đâu? địa hình khai quật như một cuốn sách âm dương lâu ngày dính chặt vào nhau, những tầng đất bóc đi như dở từng trang sách bí ẩn. Bây giờ mọi người đang lo âu dỡ những trang cuối cùng đó là lớp đất gan trâu có chiều sâu trên 2m. Nếu không tìm thấy các anh thì sao? phụ lục – chính là dòng sông. Phải ngăn dòng sông bơm nước, bới bùn vét đáy, phải tìm đến cùng. Đó là nghị quyết của UBND tỉnh Hà Tĩnh và tinh thần quyết tâm của người dân ở đây. Lãnh đạo UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định chi 200 triệu đồng cho việc tìm kiếm và hậu sự. Chờ mãi vẫn chưa thấy lãnh đạo của các đơn vị có lính hy sinh ở cầu Nhe về thăm.
  Đã gần 11 giờ trưa cả cánh đồng người vẫn mải miết bới đào tìm kiếm. Loa phóng thanh liên tục phát những bài thơ vừa sáng tác trên “mặt trận” có tác giả như cô Thanh chưa bao giờ làm thơ mà lời thơ dâng hồn liệt sỹ nghe buồn thương nẫu ruột. Từ hôm khởi sự đến giờ đã có gần 30 bài thơ, bài nào cũng cảm động. Sức lực, tấm lòng và cả tâm hồn của người dân Can Lộc đều hướng về các liệt sỹ đã hy sinh đó là những câu linh thi được bật ra từ linh giác. Tôi đã đi hầu hết các nghĩa trang miền Trung, từng chứng kiến cây Bồ đề tự nhiên mọc kề sau lưng nghĩa trang Trường Sơn, bỏ qua tháng năm trở thành đại thụ. Từng nghe lời kể về những người lính trong lòng đất tập thể dục hô 1.2.1. Âm âm trước khi màn đêm đi về phía bình minh, đã chứng kiến lễ thắp hương ở nghĩa trang Trường Sơn mỗi lần hết hơn 5 triệu tiền hương với 3 người đi cắm trên mộ một ngày ròng rã nhưng chưa bao giờ thấy gần 500 người lật ngược cánh đồng để tìm hài cốt liệt sỹ.
  Chiều 25/8/2003, ngày thứ 12. Hàng ngàn người đổ về cầu Nhe. Cả một vùng đất rộng mênh mông không thể chứa nổi hết rừng người. Người tràn ra đường đứng chật ních trên cầu mới, có những cụ già lưng còng theo cháu dắt đi. Đoàn xe nườm nượp xích dần đậu san sát bên vệ đường. Hôm nay một ngày đại tang, 27 linh hài phủ cờ Tổ quốc, khói hương rưng rức, rân rấn mắt người. Đại diện các đơn vị có các chiến sỹ hy sinh đã về đông đủ. Bộ tư lệnh Quân khu 3-Tổng Cụ Hậu cần. Bộ chỉ huy quân sự thành đội Hải Phòng-Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Trong tỉnh gần 30 đoàn gồm lãnh đạoUBND tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự, Sở Công an, Sở Thương binh-Xã hội, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Đoàn thanh niên, lãnh đạo huyện Can Lộc và đại diện các cơ quan ban ngành.
  4 giờ chiều, tang lễ cử hành, nhạc viếng hồn tử sĩ cất lên len vào hồn người nỗi buồn tê tái, phút mặc niệm cả rừng người lặng ngắt, cúi đầu tiễn các anh về thế giới ngàn trùng. Ông Trần Đình Đàn - Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh thắp nén tâm nhang, làm lễ dâng hương, khởi đầu lễ viếng, cờ, hoa rợp chỗ các anh nằm. Khói hương loang trắng một vùng. Trong làn khói âm dương ấy biết bao tấm lòng cháy theo nỗi luyến thương. 5 giờ đưa các anh lên xe về nơi an nghỉ với đồng đội trong nghĩa trang liệt sỹ dưới chân núi Hồng. Đoàn xe đi chầm chậm trong hoàng hôn ánh mắt. Và những giọt sương lặng lẽ lăn qua gò má của những mẹ già, em gái bên triền sông Nhe.
                                                                                                                  Cầu Nhe, tháng 8/2003